Việt Nam cần bước qua 'lời nguyền' xuất khẩu đất hiếm bằng công nghệ lõi
Việc Mỹ thúc đẩy dòng chảy đất hiếm hướng về hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản có phải đang mở ra cơ hội chiến lược cho Việt Nam?
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra với tốc độ chưa từng có. Sự phối hợp chiến lược giữa Mỹ và hai cường quốc công nghệ Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc đang tái định hình bản đồ năng lượng, công nghệ thế giới. Nằm ở tâm điểm của sự chú ý, Việt Nam sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn thứ hai hành tinh và đứng trước cơ hội lịch sử bứt phá. Làm sao để tiếp nhận công nghệ lõi, tự chủ chế tạo nam châm vĩnh cửu, hóa giải bài toán môi trường và kiên quyết không lặp lại sai lầm xuất khẩu thô?
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc đối thoại chuyên sâu với NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính - Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng).

Việt Nam - Mảnh ghép định hình chuỗi cung ứng toàn cầu
Thưa ông, việc Mỹ thúc đẩy dòng chảy đất hiếm hướng về hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản mở ra cơ hội chiến lược gì cho Việt Nam? Chúng ta cần hành động gì để tận dụng vị thế của quốc gia có trữ lượng lớn thứ hai thế giới?
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Chúng ta cần phân tích cấu trúc địa - kinh tế toàn cầu theo một góc nhìn khách quan và thực tế. Mỹ sở hữu nguồn tài nguyên quặng đất hiếm rất lớn (tiêu biểu như mỏ Mountain Pass). Nhưng họ thiếu hệ thống hạ tầng phân tách quy mô công nghiệp lớn và năng lực gia công cơ khí chính xác, chuyên sâu phục vụ ngành sản xuất nam châm vĩnh cửu.

Ngược lại, Nhật Bản và Hàn Quốc nắm giữ những bí quyết công nghệ độc quyền, hệ thống bằng sáng chế thương mại cốt lõi và nhóm tiêu thụ hạ nguồn khổng lồ (thông qua các ngành sản xuất xe điện - EV, chip bán dẫn, robot công nghiệp và thiết bị quốc phòng). Tuy nhiên, họ hoàn toàn không có tài nguyên mỏ nội địa. Việt Nam là mảnh ghép địa - kinh tế then chốt để hoàn thiện chuỗi cung ứng khép kín.
Khi Mỹ thúc đẩy dòng vốn chiến lược, Nhật Bản và Hàn Quốc có thêm động lực đưa công nghệ vào Việt Nam xây dựng cứ điểm sản xuất mới. Việt Nam sẽ giữ vai trò cung cấp nguồn quặng ổn định, vừa trở thành trung tâm chế biến trung nguồn của mạng lưới.
Mô hình “friend-shoring” vận hành theo chuỗi liên kết chặt chẽ. Mỹ định hướng địa chính trị và thúc đẩy dòng vốn đầu tư. Nhật Bản, Hàn Quốc cung cấp công nghệ lõi, thị trường đầu ra. Việt Nam giữ vai trò kép là nguồn tài nguyên đầu vào và trung tâm sản xuất tại Đông Nam Á. Để không bỏ lỡ thời cơ lịch sử này, Việt Nam cần thực hiện 3 hành động cốt lõi mang tầm chiến lược.
Đó là cần luật hóa yêu cầu chuyển giao công nghệ trong khai thác đất hiếm. Đặc biệt tại các mỏ chiến lược như Đông Pao, Nậm Xe. Cùng với đó, việc cấp quyền khai thác phải gắn với điều kiện liên doanh và lộ trình để doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận, làm chủ công nghệ phân tách.
Chúng ta phải xây dựng kho dự trữ chiến lược về tinh quặng và oxit đất hiếm. Điều này giúp chủ động điều tiết nguồn cung, bảo đảm an ninh nguyên liệu và hạn chế rủi ro khi thị trường quốc tế biến động.
Song song, Việt Nam sớm ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm đất hiếm tương thích với các hệ thống JIS của Nhật Bản và ASTM của Mỹ. Qua đó tạo nền tảng kĩ thuật để sản phẩm trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mô hình "Công nghệ nguồn - Ứng dụng quy mô - Nguyên liệu nền tảng"
- Theo ông, mối quan hệ với hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ bổ trợ như thế nào giúp Việt Nam tiếp nhận, chuyển giao các kỹ thuật cốt lõi để tự chế tạo được nam châm thành phẩm?
- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Để hiểu rõ tính bổ trợ, chúng ta cần phân tích chuỗi giá trị đất hiếm tuần tự từ thấp lên cao. Đó là đi từ Quặng thô → Tinh quặng → Oxit riêng rẽ → Kim loại/Hợp kim → Nam châm vĩnh cửu thành phẩm. Nhật Bản và Hàn Quốc có 2 năng lực cốt lõi bổ trợ hoàn hảo theo mô hình: "Công nghệ nguồn (Nhật Bản) - Ứng dụng quy mô lớn (Hàn Quốc) - Nguyên liệu nền tảng (Việt Nam)". Sự kết hợp này giúp doanh nghiệp Việt Nam đi hết chuỗi giá trị, thay vì dừng lại ở các bước đầu tiên.
Nhật Bản giúp hóa giải rào cản phân tách hóa học và bảo hộ bản quyền. Để chế tạo được nam châm vĩnh cửu hiệu năng cao phải cô lập các nguyên tố có tính chất hóa học gần như tương đồng hoàn toàn (như cặp đôi Neodymium - Praseodymium).
Nhật Bản sở hữu quy trình tách li bằng hệ thống dung môi li tâm (Solvent Extraction) đạt độ tinh khiết cực cao (vượt mức 99,99%).
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính
Các tập đoàn Nhật Bản cũng nắm giữ những bằng sáng chế (Patent) cốt lõi về cấu trúc tinh thể của nam châm NdFeB. Hợp tác sâu rộng giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được kĩ thuật phân tách chuẩn công nghiệp. Chúng ta được bảo hộ pháp lí, tránh các vụ kiện tụng bản quyền quốc tế khi xuất khẩu sản phẩm ra thị trường toàn cầu.
Hàn Quốc hỗ trợ làm chủ kĩ thuật luyện kim và thiêu kết quy mô lớn. Đó là quá trình biến đổi từ oxit đất hiếm đơn lẻ thành kim loại nguyên chất bằng công nghệ điện phân muối nóng chảy, hoặc khử bằng nhiệt canxi ở nhiệt độ cao. Đây vốn là thế mạnh truyền thống của ngành luyện kim Hàn Quốc. Họ có chuỗi sản xuất công nghiệp khổng lồ phục vụ các tập đoàn toàn cầu như Hyundai hay Samsung.
Hàn Quốc chuyển giao cho Việt Nam kĩ thuật ép khuôn định hình, thiêu kết áp suất cao (Sintering) trong môi trường khí trơ và kỹ thuật mạ phủ bề mặt chống oxy hóa. Đây là những bước kĩ thuật đúc ra những khối nam châm thành phẩm có khả năng chịu nhiệt độ cao trong động cơ xe điện thế hệ mới.
Buộc "đại bàng" xây tổ chế biến sâu bằng đòn bẩy thuế suất
- Mô hình hợp tác kinh tế và chính sách ưu đãi FDI nào là tối ưu nhất thu hút các tập đoàn lớn đổ vốn vào chuỗi chế biến sâu, giúp Việt Nam thoát bẫy "chỉ xuất khẩu thô", thưa ông?
-NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Nhiều quốc gia giàu tài nguyên trên thế giới đã sập bẫy "chỉ xuất khẩu thô". Họ vội vã khai thác mỏ bán cho nước ngoài không kèm điều kiện ràng buộc công nghệ. Chúng ta cần áp dụng mô hình Ưu đãi có điều kiện ràng buộc công nghệ (Conditional FDI Incentives).
Việt Nam cần thu hút các “đại bàng” công nghệ toàn cầu nhưng không làm tổn hao tài nguyên
NCS. Thạc sĩ NGuyễn Đức Tính
Về mô hình hợp tác kinh tế, tôi kiến nghị áp dụng mô hình Liên doanh bắt buộc (Joint Venture - JV), với cơ chế sở hữu cổ phần chi phối tăng dần theo thời gian. Các tập đoàn nước ngoài không được phép sở hữu 100% vốn tại các dự án liên quan đến khâu khai thác mỏ và phân tách oxit thô. Họ phải thiết lập liên doanh với các tập đoàn kinh tế nhà nước hoặc các tập đoàn tư nhân chiến lược của Việt Nam. Trong đó, tỉ lệ vốn nội địa tối thiểu ban đầu đạt 36% để giữ quyền phủ quyết đối với các quyết định lớn.
Đồng thời, Việt Nam cần áp dụng cơ chế "Khấu trừ bằng công nghệ". Điều này cho phép đối tác nước ngoài quy đổi giá trị chuyển giao máy móc hiện đại và bản quyền công nghệ cốt lõi thành tỉ lệ cổ phần đóng góp tương ứng.
Về chính sách thuế và ưu đãi đột phá, chúng ta sử dụng công cụ điều tiết mạnh mẽ từ thuế suất lũy tiến nghiêm ngặt. Cụ thể, áp mức thuế xuất khẩu cực cao (từ 30% đến 40%) hoặc tiến tới cấm xuất khẩu hoàn toàn đối với quặng thô, tinh quặng chưa qua phân tách và hỗn hợp oxit tổng hợp.
Ngược lại, áp dụng mức thuế xuất khẩu 0% đối với các nguyên tố đất hiếm nặng phân tách riêng biệt đạt độ tinh khiết cao, hợp kim đất hiếm và nam châm vĩnh cửu thành phẩm. Cơ chế này tạo động lực để doanh nghiệp FDI đầu tư nhà máy chế biến tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, chúng ta cần có ưu đãi thuế R&D, thuế thu nhập doanh nghiệp và đất đai cho các trung tâm nghiên cứu vật liệu mới. Nhưng phải gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ và phát triển đội ngũ kỹ sư Việt Nam.
Việt Nam và bài toán "nút thắt cổ chai"
Theo ông, thực trạng công nghệ thăm dò, khai thác địa chất hiện nay của Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu về sản lượng và chất lượng quặng đầu vào cho các nhà máy chế biến sâu chưa?
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Tôi xin trả lời một cách thẳng thắn và khách quan, dựa trên các số liệu khảo sát ngành, thì tôi cho là chưa đáp ứng được. Năng lực công nghệ nội địa của chúng ta đang tạo ra một "nút thắt cổ chai" rất lớn. Điều đó ngăn trở sự kết nối giữa khâu khai thác khoáng sản và nhu cầu vận hành của các nhà máy tinh chế chất lượng cao.

Đầu tiên là khâu thăm dò địa chất. Dữ liệu địa chất mới dừng ở việc lập bản đồ và đánh giá trữ lượng tổng thể tại các tầng nông thông qua các lỗ khoan hạn chế. Chúng ta thiếu công nghệ thăm dò địa vật lý hàng không, thiết bị quét phổ từ tính và các phần mềm mô phỏng cấu trúc địa chất 3D dưới lòng đất.
Hạn chế này khiến việc xác định các thân quặng chứa đất hiếm nặng có giá trị cao như Dysprosium, Yttrium ở tầng sâu gặp nhiều khó khăn. Khi chưa có dữ liệu phân loại đầy đủ theo từng nhóm nguyên tố, việc triển khai các dự án khai thác quy mô công nghiệp tiềm ẩn rủi ro lớn về chi phí và hiệu quả đầu tư.
Chúng ta còn hạn chế ở khâu khai thác và tuyển quặng. Công nghệ tuyển nổi, tuyển từ trong nước hiện có hiệu suất thu hồi chưa cao, chỉ khoảng 50 - 60%. Điều này làm một phần lớn tài nguyên bị thất thoát theo bã thải. Chất lượng tinh quặng sau tuyển cũng chưa ổn định, hàm lượng tổng oxit đất hiếm (TREO) biến động. Trong khi tỉ lệ tạp chất như sắt, silicat, canxi còn cao.
Đây là trở ngại lớn, bởi các dây chuyền phân tách oxit đất hiếm quy mô công nghiệp cần nguồn nguyên liệu đầu vào có tính đồng nhất cao về cả thành phần hóa học và đặc tính vật lí.
Cho nên trong giai đoạn đầu, Việt Nam cần tiếp nhận công nghệ tuyển quặng tiên tiến và hợp tác với các đối tác quốc tế. Từ đó, chúng ta chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, tạo nền tảng cho quá trình chế biến sâu.
Tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế
Để phát triển bền vững, Việt Nam cần cân đối bài toán chi phí giữa việc đầu tư kĩ thuật xử lí môi trường (chống phóng xạ, hóa chất) và lợi nhuận kinh tế từ đất hiếm ra sao, thưa ông?
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Khai thác và chế biến đất hiếm là một ngành công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm rất cao. Trong cấu trúc địa chất, các khoáng vật chứa đất hiếm luôn phân bổ đồng hành và đan xen cùng các nguyên tố phóng xạ tự nhiên như Thorium (Th) và Uranium (U). Quá trình thủy luyện phân tách các oxit đơn lẻ phải dùng khối lượng cực kì lớn các loại hóa chất và axit mạnh.

Đứng trước bài toán này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có những chỉ đạo mang tính cốt lõi và nghiêm ngặt đối với ngành công nghiệp vật liệu quốc gia. Đặc biệt là tài nguyên chiến lược như đất hiếm. Người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định mục tiêu tối thượng: “Không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá và tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng”.
Các văn kiện định hướng phát triển bền vững xác định bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu là trụ cột của mô hình phát triển mới. Tư duy cần chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, kiến tạo phát triển xanh, lấy sức khỏe và môi trường sống an toàn của người dân làm trung tâm.
Tôi cho rằng, chi phí bảo vệ môi trường và an toàn phóng xạ phải được xem là bắt buộc trong mọi mô hình đầu tư. Việt Nam cần chấm dứt tư duy “khai thác trước, xử lý hậu quả sau”. Toàn bộ chi phí cho hạ tầng công nghệ môi trường phải được tính ngay vào giá thành sản phẩm từ giai đoạn thẩm định dự án.
Nếu không đạt biên lợi nhuận an toàn sau khi tính đủ chi phí xử lí môi trường theo chuẩn quốc tế, dự án sẽ không được cấp phép đầu tư. Việt Nam không chấp nhận khai thác tài nguyên bằng mọi giá. Những nguồn tài nguyên quý giá có thể được giữ lại cho tương lai khi công nghệ xử lí hiệu quả hơn và vị thế thương lượng được nâng cao.
Để giải quyết căn cơ bài toán này theo tinh thần “kiến tạo phát triển xanh”, cần triển khai đồng bộ 3 nhóm giải pháp chiến lược. Trước hết, Việt Nam cần áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong quản lí chất thải khoáng sản. Thorium sau khi tách khỏi đất hiếm không thể xem là chất thải bỏ đi. Việc nghiên cứu công nghệ đóng bánh, lưu trữ an toàn để trở thành nguồn nguyên liệu dự trữ cho các công nghệ hạt nhân trong tương lai cũng quan trọng. Đồng thời, bã thải sau quá trình xử lí quặng cần được nghiên cứu tái chế thành vật liệu xây dựng, giảm áp lực lên các khu chứa thải.
Song song đó, chúng phải thiết lập cơ chế ký quỹ môi trường nghiêm ngặt theo tiến độ khai thác. Doanh nghiệp tham gia dự án phải nộp khoản kí quỹ đủ lớn để bảo đảm thực hiện các cam kết về hoàn thổ, phục hồi môi trường và xử lý sự cố. Nếu vi phạm, nguồn tiền này được sử dụng để khắc phục hậu quả, đồng thời áp dụng các chế tài nghiêm khắc.
Việt Nam nên triển khai chiến lược đổi tài nguyên lấy công nghệ xanh. Chính sách thu hút đầu tư phải đi kèm yêu cầu chuyển giao và áp dụng công nghệ môi trường tiên tiến. Ví dụ như hệ thống ép lọc bùn khô (Dry Stacking) nhằm giảm nguy cơ tràn bùn thải chứa chất nguy hại. Chúng ta chấp nhận biên lợi nhuận thấp hơn trong ngắn hạn, đổi lấy một quy trình khai thác an toàn, bền vững. Đó là lựa chọn cần thiết cho các thế hệ tương lai.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi thẳng thắn này.



