Việt Nam hoàn toàn làm chủ được công nghệ để sống chung với lũ
Tuyết Nhung•27/10/2025 08:43
Theo chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh, Việt Nam hoàn toàn làm chủ được công nghệ trong việc quản lý lũ trước tình hình mưa lũ ở nhiều vùng trên cả nước cuối năm 2025 có xu hướng cực đoan.
Thời điểm cuối tháng 10 hiện tại, tình hình lũ lụt ở Việt Nam diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới, cùng với sự tác động của biến đổi khí hậu. Tình hình này đòi hỏi Việt Nam cần phải có chiến lược rõ ràng hơn trong phòng chống thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng cho từng vùng trên cả nước. Trao đổi với PV Tạp chí Một Thế Giới về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Anh - một chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực thủy lợi và phòng chống thiên tai - đã có nhiều chia sẻ và cái nhìn sâu sắc.
- Ông đánh giá thế nào vềtình hình bão - mưa - lũ ở các vùng trên cả nước hiện nay?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cùng với điều kiện địa lý trải dài trên khoảng 15 vĩ độ, hạ lưu của nhiều sông lớn và nhiều sông suối nhỏ, nên hàng năm, mưa bão và lũ lụt thường xuyên xảy ra, gây nhiều thiệt hại về con người và hạ tầng. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố địa lý và khí hậu, lũ lụt ở mỗi vùng cũng có những đặc điểm riêng, rất cần được “nhận diện” chính xác để có các giải pháp quản lý và ứng phó hiệu quả, không những bảo vệ an toàn tính mạng người dân mà còn là cơ sở để phát triển bền vững.
Ở vùng ĐBSCL, mùa lũ năm nay, mực nước lũ chính vụ tại các trạm đầu nguồn (Tân Châu, Châu Đốc) hiện ở mức cao hơn so với năm trước, nhưng vẫn có là một "mùa lũ đẹp" (tức là lũ ở mức xấp xỉ trung bình, có thể khai thác lợi ích).
Do tác động của hệ thống hồ chứa thủy điện thượng lưu Mê Kông hình thành và dần hoàn thiện từ 2010 đến nay, lũ ĐBSCL, bản thân đã có đặc điểm hiền hòa, ít biến động qua từng năm, nay lại càng có xu hướng điều hòa hơn.
Hiện tại, nhiều khu vực, đặc biệt vùng ven biển, đang đối mặt với nguy cơ do lũ từ thượng lưu dồn về, mưa lớn nội tại, kết hợp triều cường cao cuối năm từ biển vào, khiến những đô thị lớn như: Cần Thơ, Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu... ngập sâu, gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, với phương châm “chung sống với lũ” và “sống chung với triều cường”, người dân vùng ĐBSCL đang thích nghi dần và tiến đến chủ động quản lý lũ và ngập triều ngày càng hiệu quả.
Trong khi đó, miền Bắc đã và đang phải đối mặt với những trận lũ lịch sử và ngập lụt nghiêm trọng trong thời gian gần đây do hoàn lưu của các cơn bão (như bão số 10 Bualoi và bão số 11 Matmo) và mưa lớn cục bộ.
Lũ lụt không chỉ tập trung ở vùng núi mà đã lan rộng, gây ngập lụt nghiêm trọng ở các vùng trũng ven sông (các tỉnh miền núi và trung du như Lào Cai, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh...), mà còn lan rộng xuống vùng đồng bằng hạ lưu sông (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định...).
Miền Trung hiện đang là khu vực chịu tác động nặng nề và liên tục nhất trong giai đoạn cuối năm, do đây là nơi đón đầu các cơn bão và áp thấp nhiệt đới từ Biển Đông.
Lũ miền Trung quá hung dữ. Tuy rằng hiện thượng lưu các sông đều có nhiều hồ chứa nhưng không thể đủ để ngăn được lũ lớn. Phương châm né tránh lũ là thích hợp.
Khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi đang được cảnh báo sẽ xuất hiện một đợt lũ diện rộng mới, với mực nước đỉnh lũ trên một số sông (Kiến Giang, Thạch Hãn, Bồ, Hương) có khả năng đạt và vượt báo động 2 - báo động 3.
-Việc chuyển đổi từ "chống trả" sang "hòa hợp" có phải là xu hướng tất yếu của Việt Nam trước bối cảnh biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng không, thưa ông?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Tôi cho rằng tình hình lũ cuối năm 2025 có xu hướng cực đoan hơn so với trung bình nhiều năm, đòi hỏi phải có tư duy mới trong quản lý thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng. Đối với lũ, việc chuyển đổi tư duy từ phòng chống duy ý chí sang trạng thái linh hoạt ứng phó, chủ động phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro cho từng vùng và từng cấp lũ là cần thiết.
“
Đối với lũ, việc chuyển đổi tư duy từ phòng chống duy ý chí sang trạng thái linh hoạt ứng phó, chủ động phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro cho từng vùng và từng cấp lũ là cần thiết.
Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh
Như đã nói ở trên, Việt Nam chúng ta tuy có 6 vùng kinh tế xã hội nhưng tập trung vào 3 nhóm lũ đặc trưng: Lũ ĐBSCL hiền hòa nhưng kéo dài 4-6 tháng; Lũ miền Trung dữ, xuất hiện từng trận ngắn 1-5 ngày, mỗi năm thường 3-5 trận; Lũ miền Bắc diễn biến phức tạp, gây ngập sâu, rộng, từng đợt 5-10 ngày, mỗi năm 1-3 đợt...
- "Sống chung với lũ" - Khái niệm này có ý nghĩa và chiến lược áp dụng khác nhau như thế nào giữa ĐBSCL (lũ hiền hòa, mang lại phù sa) và miền Trung/miền Bắc (lũ dữ, lũ quét, lũ ống), thưa ông?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Lũ ĐBSCL có sự khác biệt rất lớn so với lũ nhiều nơi khác, đặc biệt lũ miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, thậm chí cả Đông Nam bộ.
Lũ ĐBSCL trước 2010 tuy ở điều kiện gần tự nhiên (chưa phát triển hệ thống hồ chứa thủy điện thượng Mê Kông) thì đã có tính chất hiền hoà, lên xuống chậm và hơn một nửa diện tích, tuy vào mùa lũ, nhưng vẫn chịu tác động của nhịp thủy triều.
Cụm từ "mùa nước nổi" (dùng cho vùng thuần lũ) hay "nước lớn", "nước ròng" (dùng cho vùng lũ - triều và thuần triều) cho thấy nước sông/trong đồng lên xuống từ từ.
Lũ mang lại cho ĐBSCL nguồn lợi rất lớn về phù sa, thuỷ sản, thủy sinh, các loại rau mọc trong nước như sen/súng, bông điên điển...
Lũ mang lại cho ĐBSCL nguồn lợi rất lớn về phù sa, thuỷ sản, thủy sinh, các loại rau mọc trong nước như sen/súng, bông điên điển..., vệ sinh đồng ruộng và hệ sinh thái ngập nước đặc trưng suốt 4-6 tháng mùa lũ. Tôi còn nhớ, những năm đầu gọi "lũ vùng ĐBSCL", người dân vùng ĐBSCL không chịu. Họ cứ đòi dùng cụm từ "mùa nước nổi". Chúng tôi phải giải thích rằng, trong Luật Đầu tư và các luật liên quan, chỉ có cụm từ "lũ" và "thiệt hại do lũ" mới được công nhận để lập dự án đầu tư, cụm từ "lũ vùng ĐBSCL" mới xuất hiện chính thức trong các văn bản Nhà nước.
Sau năm 2011, do có hệ thống thuỷ điện thượng lưu, tuy có tác động lớn đến giảm phù sa và nguồn lợi thuỷ sản (phù sa giảm còn dưới 40%, sản lượng cá linh chỉ còn 40-60% so với trước đây), nhưng nhịp lũ có phần điều hoà hơn, với đa phần là lũ nhỏ đến trên trung bình. Chỉ riêng ĐBSCL mới có khái niệm "lũ đẹp", là loại lũ có quá trình lũ bình thường, tổng lượng từ 320-380 tỉ m3, đỉnh lũ từ 3,5-4m.
Để "chung sống với lũ" thuận hoà và chủ động, người dân ĐBSCL phân biệt rõ 4 loại hạ tầng để có các mức độ "kiểm soát sự thân thiện với lũ", đó là đường giao thông các cấp, đê bao bảo vệ các đô thị và khu dân cư, đê bao vùng sản xuất 3 vụ ổn định và bờ bao bảo vệ sản xuất 2-3 vụ, tuỳ tình hình lũ.
Trong đó, hai loại hạ tầng là đê bao bảo vệ các đô thị và khu dân cư, đê bao vùng sản xuất 3 vụ ổn định và bờ bao bảo vệ sản xuất 2-3 vụ được áp dụng tuỳ từng khu vực lũ, nhưng đều vẫn bố trí thời gian vào nửa cuối mùa lũ (sau khi thu hoạch cơ bản xong vụ lúa Thu-Đông) để cho lũ vào đồng, tận dụng tối đa nguồn lợi từ lũ.
Hàng năm, cứ đầu mùa lũ (tháng 7-8), người dân vùng lũ ngóng chờ lũ về như món quà từ thiên nhiên... Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khi mưa lớn gây ngập úng ruộng lúa và khu dân cư mà khả năng tiêu thoát nước tự nhiên không cho phép, thì việc bơm nước ra ngoài cứu lúa và ổn định đời sống dân cư là không thể tránh khỏi.
Còn lũ miền Trung quá hung dữ. Tuy rằng hiện thượng lưu các sông đều có nhiều hồ chứa nhưng không thể đủ để ngăn được lũ lớn. Phương châm né tránh lũ là thích hợp.
Miền Bắc cũng có lũ phức tạp trên nền địa hình rất đa dạng. Tuy phần lớn đều có hệ thống hồ chứa, nhưng nhìn chung diễn biến lũ quá biến động giữa các năm, trong khi dung tích phòng lũ lại quá bé, dự báo mưa lũ còn hạn chế, thì việc hình thành hệ thống "quản lý lũ" thống nhất và xuyên suốt không hề dễ dàng. Miền Bắc trước đây từng có các vùng trữ lũ, nay không còn.
Miền Bắc đã đối mặt với những trận lũ lịch sử và ngập lụt nghiêm trọng trong thời gian gần đây do hoàn lưu của các cơn bão (như bão số 10, bão số 11) và mưa lớn cục bộ.
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, vậy nên không dễ để tìm hướng đi thật khả dĩ cho quản lý và phòng chống lũ. Sau bão lũ Yagi, tôi đã đề xuất nhiều nghiên cứu và xem lại quy hoạch lũ. Đây là vấn đề lớn liên quan tới nhiều lĩnh vực liên ngành, trước mắt và lâu dài, hiệu quả cho mọi loại lũ lớn/nhỏ, thậm chí cực lớn, thích ứng cho mọi khu vực và thượng/hạ lưu, mọi khu dân cư, mọi loại hạ tầng, mọi mục tiêu sử dụng đất, đảm bảo an sinh xã hội và thậm chí, giờ là chính quyền địa phương 2 cấp, cần rất cẩn trọng.
- Để “sống chung với lũ”, điều kiện tiên quyết nào để Việt Nam chuyển đổi thành công từ "chống trả" sang "hòa hợp" với lũ, thưa ông?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Thứ nhất, lũ điều hoà, quy luật khá ổn định, người dân có thể chủ động mọi sinh hoạt và hoạt động xã hội và kinh tế trong vùng lũ; Thứ hai, người dân có quá trình sống trong lũ và hiểu cặn kẽ về các mặt lợi/hại của lũ; Thứ ba, các mùa vụ và cây trồng chính phù hợp với diễn biến lũ, ít nhất trước và sau đỉnh lũ.
Thứ tư, lũ mang lại nguồn lợi nhất định mà người dân muốn tận dụng và sống chung/chung sống với nó; Thứ năm, hệ thống hạ tầng kỹ thuật có thể phát triển bình thường ngay trong vùng lũ mà nguy cơ thiệt hại có thể được dự báo.
Thứ sáu, không gây tác động xấu đến thượng/hạ lưu vùng ngập lũ; Có thể dự báo/cảnh báo và triển khai khá thuận lợi các hoạt động trước/trong/sau lũ; Thiệt hại do lũ không quá lớn và có thể kiểm soát được; Người dân có thể kiếm sống từ ngay trong mùa lũ...
- Theo ông, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm thành công từ quốc gia nào trên thế giới trong việc "hòa hợp" với lũ?Và ông đánh giá thế nào về hệ thống quản lý lũ tổng thể của Việt Nam hiện nay?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Chúng ta đều biết, thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện địa lý và địa hình. Từ năm 1954 đến nay, miền Bắc và sau đó cả nước đã hình thành một hệ thống thủy lợi và phòng chống lũ lụt rộng khắp. Vừa làm nhiệm vụ cấp nước và tưới -tiêu, vừa làm nhiệm vụ phòng chống thiên tai ngày càng hiệu quả.
Trước hết, đối với vùng ĐBSCL, “sống chung với lũ” và sau đó là “chung sống với lũ” và “chủ động chung sống với lũ” được đúc rút từ sản xuất và phát triển của người dân vùng ngập lũ là một kinh nghiệm quý báu và được nâng tầm thành một vấn đề khoa học trên thế giới. Hiện, chưa có quốc gia hay vùng đất nào trên thế giới có được cuộc sống thuận hòa và tận dụng tốt các nguồn lợi từ lũ như vùng ĐBSCL.
Đối với miền Trung và miền Bắc, tuy lũ lụt có hung dữ và khắc nghiệt hơn, nhưng kinh nghiệm phòng chống lũ của chúng ta qua hàng ngàn năm phát triển hệ thống thủy lợi-phòng chống thiên tai cũng cho thấy, Việt Nam đủ sức và kinh nghệm để thực hành tốt quản lý lũ nói riêng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước, lưu vực sông nói chung.
Về trình độ thủy lợi và quản lý, phòng chống thiên tai, Việt Nam hoàn toàn làm chủ được khoa học công nghệ, không hề thua kém bất kỳ quốc gia nào. Thậm chí, có nhiều mặt chúng ta còn tiến rất xa, như xây dựng và ứng dụng các mô hình thủy văn-thủy lực, đặc biệt mô hình thủy lực cho vùng ĐBSCL.
Ngoài ra, trong phòng chống thiên tai, phương châm “4 tại chỗ” của Việt Nam, nghe thì đơn giản, nhưng khó có quốc gia nào trên thế giới thực hành nhuần nhuyễn, thành thục và hiệu quả như ở Việt Nam. Cái chúng ta còn thiếu để biến các quy hoạch thành thực tế là nguồn vốn. Do hạn chế về nguồn vốn, nhiều công trình, dự án phòng chống thiên tai, bão lũ còn chưa thực hiện được. Đây chính là hạn chế lớn nhất.
“
Việt Nam hoàn toàn làm chủ được khoa học công nghệ, không hề thua kém bất kỳ quốc gia nào trong việc quản lý lũ để sống chung với lũ
Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh
Hà Lan, sau trận lũ biển cực lớn năm 1953, họ đã quyết định xây dựng hệ thống đê-cống ngăn lũ vô cùng vững chắc. Hà Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới, với nguồn lực lớn, đã thực thi chiến lược chống lũ triệt để từ 1973. Tuy vậy, những năm gần đây, họ cũng đã và đang xem xét quan điểm “sống chung với lũ” của ĐBSCL bằng cách mở cống đón nước biển vào ở một số khu vực.
- Lời khuyến nghị của ông đến cơ quan quản lý, các nhà khoa học, và người dân về chiến lược phát triển bền vững trong bối cảnh thách thức lũ lụt ngày càng tăng là gì?
- Chuyên gia Nguyễn Ngọc Anh: Như trên đã đề cập, với 3 vùng lũ đặc trưng, chúng ta cần thực thi 3 chiến lược, giải pháp phòng chống lũ khác nhau, thậm chí đối chọi nhau.
Đối với vùng ĐBSCL, tiếp tục thực hiện và hoàn chỉnh chiến lược “chủ động chung sống với lũ”, song song với tiếp tục phát triển hơn nữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông các cấp (đảm bảo khẩu diện thoát lũ và mực nước vượt lũ); Củng cố và ổn định hệ thống đê bao, cống tiêu và trạm bơm hỗ trợ cho các đô thị, khu dân cư và cụm tuyến dân cư vượt lũ.
Kết hợp hiệu quả việc kiểm soát lũ với trữ, giữ và cấp nước ngọt cho các nhu cầu kinh tế xã hội; với kiểm soát xâm nhập mặn và triều cường; với bảo vệ môi trường và nguồn lợi từ lũ, với giao thông thủy và cảnh quan phục vụ du lịch-dịch vụ... Về lâu dài, nghiên cứu xây dựng hệ thống cống lớn cửa sông để vận hành hiệu quả kiểm soát lũ, trữ nước ngọt và kiểm soát mặn chủ động trong mọi tượng hợp bất lợi do biến đổi khí hậu và phát triển thượng lưu Mê kông.
Miền Trung với hệ thống sông ngắn và dốc, thường xuyên ảnh hưởng mưa bão và xuất hiện lũ lớn, tuy từng lưu vực sông đều cò các hồ chứa, hệ thống hồ chứa, nhưng do lũ lớn, hồ không đủ lớn, dung tích phòng lũ hạn chế, nên tác hại từ lũ đến các hoạt động kinh tế xã hội, nhất là vùng hạ lưu, rất lớn.
Phương châm né tránh lũ lớn, thích ứng và giảm nhẹ thiệt hại do lũ cần được thực hành hiệu quả hơn. Nâng cấp và hoàn chỉnh hệ thống đê hạ lưu các sông, đặc biệt đoạn sông qua các thành phố lớn. Xem xét đảm bảo hiệu quả phòng lũ, cắt lũ và bố trí tăng dung tích phòng lũ cho các hồ chứa lớn.
Lũ miền Trung quá hung dữ. Thượng lưu các sông đều có nhiều hồ chứa nhưng không thể đủ để ngăn được lũ lớn. Phương châm né tránh lũ là thích hợp.
Đối với các vùng thường xuyên xảy ra lũ lớn, không được bảo vệ bởi hệ thống đê hoàn chỉnh như: vùng duyên hải miền Trung thuộc Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, cần thực hiện phương châm “chủ động phòng, tránh, thích nghi” với thiên tai, trọng tâm là chủ động phòng, chống bão, lũ. Đồng thời cần thực hiện phân vùng rủi ro, lập bản đồ cảnh báo thiên tai, cập nhật bản đồ ngập lụt hạ du các hồ chứa ứng với các kịch bản xả lũ và vỡ đập, bản đồ ngập lụt do bão, bản đồ ngập lụt các lưu vực sông.
Nghiên cứu cân bằng hiệu quả giữa phòng lũ và phát điện, cấp nước, đặc biệt vào những năm lũ lớn. Để làm được điều này, cần làm tốt khâu dự báo bão, mưa và lũ.
Đối với miền Bắc: Đảm bảo phòng, chống lũ triệt để ứng với tần suất chống lũ thiết kế đã được xác định đối với từng tuyến sông như hiện tại, ưu tiên nâng cấp, hoàn thiện hệ thống đê sông từ cấp 3 trở lên, đặc biệt đối với tuyến đê sông Hồng, Thái Bình, sông Mã, sông Cả.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu và diễn biến thiên tai bất thường theo hướng cực đoan, cần xem xét nâng dần mức đảm bảo chống lũ cho các lưu vực sông, đặc biệt cao trình hệ thống đê. Bên cạnh đó, xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống đê “liền mạch” từ thượng xuống hạ lưu mỗi sông.
Đối với các lưu vực có hệ thống liên hồ chứa tham gia cắt lũ cần thực hiện điều tiết hiệu quả hệ thống liên hồ chứa hiện có theo quy trình vận hành liên hồ chứa để đảm bảo an toàn công trình và chủ động cắt lũ cho hạ du; Song song với xem xét sử dụng hiệu quả dung tích phòng lũ, tăng dung tích phòng lũ trên các lưu vực sông mà hạ lưu có cơ cấu kinh tế phát triển và quan trọng.
Chuyển dần nhiệm vụ phát điện, cấp nước là chính ở một số hồ chứa sang phòng chống lũ là chính nếu thấy cần thiết đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạ lưu. Thận trọng với các phát triển xâm lấn lòng sông/bãi sông, công trình giữa sông...
Đối với các vùng đang có tồn tại về lòng dẫn tiêu thoát lũ trên các dòng chính cần nghiên cứu, xây dựng công trình chỉnh trị để đảm bảo tiêu, thoát lũ thuận lợi, chống xói lở bờ sông, nghiên cứu tỷ lệ phân lưu hợp lý giữa các nhánh sông...; Quản lý chặt chẽ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khắc phục tình trạng lấn chiếm lòng sông, suối; Mở rộng khẩu độ thoát lũ đối với các công trình giao thông;…
Đối với các lưu vực có hệ thống hồ chứa thượng nguồn nhưng năng lực cắt lũ không cao, dễ bị động khi xảy ra lũ lớn cần củng cố, nâng cấp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước, xây dựng hệ thống cảnh báo xả lũ hồ chứa;
Vấn đề quan trọng không kém trong phòng chống lũ hiệu quả là dự báo thiên tai, đặc biệt bão, mưa và lũ. Nâng cao chất lượng dự báo thiên tai đóng vai trò rất quan trọng trong vận hành kho phòng lũ các hồ chứa, giúp chủ chủ động ứng phó và giảm nhẹ tác hại từ lũ.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.