Thời sự

Việt Nam nằm trong số nước bị Mỹ đề xuất tăng thuế bổ sung theo Mục 301

Bùi Tú 03/06/2026 19:32

Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ vừa công bố kết quả điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.

ldvn.jpg
Theo cách diễn giải của Mỹ về người lao động trong Mục 301 của Mỹ, ngay cả EU và Nhật, Hàn cũng không đáp ứng được.

Tuy nhiên, đây mới là giai đoạn đề xuất biện pháp và lấy ý kiến công khai trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, động thái này có thể được nhìn nhận không chỉ như một thách thức thương mại mà còn là cơ hội để nâng cao tiêu chuẩn quản trị, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và củng cố vị thế xuất khẩu dài hạn.

Mỹ đề xuất tăng thuế bổ sung theo Mục 301 với 60 nền kinh tế

Ngày 2/6 (giờ Washington), Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố kết luận điều tra đối với 60 nền kinh tế theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Theo đó, Mỹ cho rằng các nền kinh tế này chưa xây dựng hoặc chưa thực thi hiệu quả cơ chế cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất như tinh thần Mục 301.

Cụ thể, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ xác định có 54 nền kinh tế đã không áp dụng và thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa do điều mà Mỹ gọi là "lao động cưỡng bức" làm ra.

Các nền kinh tế này bao gồm Algeria, Angola, Argentina, Australia, Bahamas, Bahrain, Bangladesh, Brazil, Campuchia, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cộng hòa Dominica, Ai Cập, El Salvador, Guatemala, Guyana, Honduras, Hồng Kông (Trung Quốc), Ấn Độ, Iraq, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kazakhstan, Kuwait, Libya, Malaysia, Morocco, New Zealand, Nicaragua, Nigeria, Na Uy, Oman, Peru, Philippines, Qatar, Nga, Saudi Arabia, Singapore, Nam Phi, Hàn Quốc, Sri Lanka, Thụy Sĩ, Đài Loan (TQ), Thái Lan, Trinidad & Tobago, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Vương quốc Anh, Uruguay, Venezuela và Việt Nam.

6 nền kinh tế khác đã không thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa do lao động cưỡng bức làm ra, gồm Canada, Ecuador, Liên minh châu Âu, Indonesia, Mexico và Pakistan.

Theo đề xuất của USTR, đối với các nền kinh tế áp dụng lệnh cấm nhập khẩu liên quan đến lao động cưỡng bức, đã cam kết áp dụng và thực thi lệnh cấm đó thông qua một Hiệp định Thương mại Tương hỗ, hoặc các nền kinh tế đã áp dụng một cơ chế một phần có tác dụng ngăn chặn nhập khẩu một số hàng hóa do lao động cưỡng bức làm ra, mức thuế bổ sung được đề xuất là 10%. Đối với tất cả các nền kinh tế còn lại, USTR đề xuất mức thuế bổ sung là 12,5%.

Danh sách bao gồm nhiều đối tác thương mại lớn của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Australia, Singapore, EU, Ấn Độ, Trung Quốc... Điều này cho thấy phạm vi điều tra không chỉ tập trung vào các nền kinh tế đang phát triển mà bao trùm cả nhiều quốc gia phát triển, thậm chí là đồng minh chiến lược của Washington. Điều đó cho thấy hành động của Mỹ mang sắc thái kinh tế nhiều hơn là các vấn đề ngoại giao hay chính trị.

Đây chưa phải quyết định cuối cùng. USTR hiện mới công bố phương án đề xuất để lấy ý kiến từ doanh nghiệp, hiệp hội và các bên liên quan. Quá trình tham vấn sẽ kéo dài đến đầu tháng 7, trước khi các phiên điều trần chính thức được tổ chức.

Trên thực tế, Mục 301 từ lâu đã là một công cụ thương mại quen thuộc của Mỹ nhằm gây sức ép buộc các đối tác điều chỉnh chính sách theo những tiêu chuẩn mà Washington cho là cần thiết đối với thương mại quốc tế. Trong những năm gần đây, phạm vi áp dụng của công cụ này ngày càng mở rộng, không chỉ giới hạn ở thuế quan hay sở hữu trí tuệ mà còn bao gồm các vấn đề lao động, môi trường và phát triển bền vững.

Xu hướng này phản ánh sự thay đổi trong tư duy thương mại toàn cầu. Các thị trường lớn ngày càng quan tâm đến nguồn gốc sản phẩm, điều kiện lao động và trách nhiệm xã hội trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì vậy, những yêu cầu mới không chỉ là vấn đề song phương giữa Mỹ với từng quốc gia mà đang dần trở thành tiêu chuẩn chung của nền kinh tế thế giới.

Việt Nam có gì để tự tin trong quá trình đối thoại và thích ứng?

Việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách điều tra chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ dài hạn, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để chủ động thích ứng với các yêu cầu mới.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Bộ luật Lao động sửa đổi cùng các cam kết trong những hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP hay EVFTA đã đặt ra nhiều yêu cầu cao về quyền của người lao động, điều kiện làm việc và trách nhiệm của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, các tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam ngày càng áp dụng các hệ thống kiểm toán chuỗi cung ứng nghiêm ngặt. Điều này góp phần nâng cao tính minh bạch của hoạt động sản xuất và giúp doanh nghiệp trong nước quen dần với các tiêu chuẩn quốc tế.

Một yếu tố tích cực khác là Việt Nam hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tập đoàn công nghệ, điện tử, dệt may và thiết bị công nghiệp lớn đều đang mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Điều đó khiến cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý có động lực mạnh mẽ để duy trì môi trường sản xuất minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu lớn.

Giới quan sát cũng cho rằng việc Mỹ lựa chọn hình thức tham vấn công khai trước khi đưa ra quyết định cuối cùng mở ra cơ hội để các quốc gia, trong đó có Việt Nam, tiếp tục đối thoại và cung cấp thêm thông tin nhằm làm rõ những nỗ lực đã thực hiện trong thời gian qua.

Quan trọng hơn, các yêu cầu mới về lao động và chuỗi cung ứng đang xuất hiện đồng thời ở Mỹ, châu Âu và nhiều nền kinh tế phát triển khác. Vì vậy, việc nâng cao tiêu chuẩn quản trị không chỉ nhằm đáp ứng một cuộc điều tra cụ thể mà còn giúp doanh nghiệp Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong dài hạn, những thay đổi này có thể tạo ra áp lực chi phí nhất định đối với một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để Việt Nam chuyển dịch từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế về chất lượng, độ tin cậy và khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Khi thương mại quốc tế ngày càng gắn chặt với các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và phát triển bền vững, năng lực thích ứng sẽ trở thành yếu tố quyết định. Với nền tảng hội nhập sâu rộng và kinh nghiệm thực thi nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới, Việt Nam có cơ sở để biến thách thức hiện nay thành một bước tiến mới trong quá trình nâng cấp vị thế của mình trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 (đã được sửa đổi) được thiết kế để giải quyết các đạo luật, chính sách hoặc thực tiễn không công bằng của nước ngoài ảnh hưởng đến thương mại của Mỹ. Mục 301 có thể được sử dụng để phản ứng trước các đạo luật, chính sách hoặc thực tiễn của chính phủ nước ngoài không thể biện minh, bất hợp lý hoặc mang tính phân biệt đối xử gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại của Mỹ.

Theo Mục 302(b) của Đạo luật Thương mại, Đại diện Thương mại có thể tự khởi xướng một cuộc điều tra theo Mục 301. Vào ngày 12 tháng 3 năm 2026, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ đã khởi xướng 60 cuộc điều tra liên quan đến việc nhiều nền kinh tế không áp dụng và thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa do lao động cưỡng bức làm ra.

Theo Mục 304(b)(1)(A) của Đạo luật Thương mại, USTR đã tạo cơ hội cho công chúng và những bên quan tâm trình bày quan điểm của họ thông qua quá trình lấy ý kiến công chúng và qua một phiên điều trần công khai. USTR đã nhận được lời khai của gần 60 nhân chứng cùng 500 ý kiến đóng góp và phản biện.

Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ hôm 2/6 thông báo đã xác định rằng việc mỗi nền kinh tế trong số 60 nền kinh tế bị điều tra không áp dụng và thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu liên quan đến lao động cưỡng bức là bất hợp lý hoặc mang tính phân biệt đối xử và gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại của Mỹ, do đó có cơ sở để xử lý theo Mục 301(b)(1) của Đạo luật Thương mại.

Nổi bật
      Mới nhất
      Việt Nam nằm trong số nước bị Mỹ đề xuất tăng thuế bổ sung theo Mục 301
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO