Ai hưởng lợi từ kho nhạc trong đầu karaoke?
Kho nhạc làm tăng giá trị đầu karaoke, nhưng người sáng tác có thể đứng ngoài dòng tiền do chính tác phẩm của họ tạo ra.
Ngày 1/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Hà Nội công bố quyết định khởi tố Vũ Phi Điệp, Giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn điện tử Việt KTV, để điều tra về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
Theo thông tin ban đầu, doanh nghiệp chưa ký hợp đồng sử dụng bản quyền âm nhạc nhưng vẫn bị cáo buộc sao chép tác phẩm trên nhiều nền tảng số, xử lý thành dữ liệu karaoke rồi tích hợp vào thiết bị bán ra thị trường. Một số sản phẩm còn cho phép tải bài hát miễn phí qua hệ thống kết nối sẵn.
Trong giai đoạn 2023 đến tháng 6/2026, công ty đã phân phối 919 sản phẩm. Cơ quan điều tra xác định khoản thu lợi bất chính khoảng 852 triệu đồng. Qua rà soát hơn 41.000 tệp, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam bước đầu xác định khoảng 1.500 tác phẩm thuộc phạm vi quản lý bị khai thác trái phép. Thiệt hại tạm tính khoảng 600 triệu đồng.
Trách nhiệm hình sự của bị can sẽ do cơ quan tố tụng xác định. Tuy nhiên, các dữ kiện công khai đã cho thấy một nghịch lý rõ ràng: kho nhạc làm tăng giá trị đầu karaoke, doanh nghiệp thu tiền từ thiết bị, còn người sáng tác không nhận được đồng tác quyền nào từ phần khai thác đó.

Kho nhạc trong đầu karaoke tạo ra giá trị gì?
Để mua một đầu karaoke về sử dụng cá nhân hoặc kinh doanh, thông thường người mua sẽ dựa vào số lượng bài hát, độ mới của thư viện, khả năng tìm kiếm và tốc độ cập nhật. Kho nhạc càng phong phú, sản phẩm càng dễ quảng bá và bán được giá.
Bỏ toàn bộ bài hát ra khỏi đầu karaoke, phần cứng vẫn còn nhưng công dụng chính gần như mất đi. Ca khúc là nguyên liệu làm nên sức hấp dẫn của thiết bị. Giá trị thương mại hình thành nhờ công sức của nhạc sĩ, người biểu diễn, nhà sản xuất và nhiều chủ thể quyền khác.
Doanh nghiệp phải trả tiền linh kiện, nhân công, máy chủ, vận chuyển và bảo hành. Tác phẩm âm nhạc cũng là một chi phí đầu vào. Một tệp nhạc có thể được sao chép trong vài giây, nhưng điều đó không biến nó thành tài sản miễn phí.
Bản gốc vẫn còn sau mỗi lần sao chép, tạo cảm giác không có ai bị mất. Tuy nhiên, bản sao đã được đưa vào sản phẩm thương mại, giúp sản phẩm hấp dẫn hơn và mang lại doanh thu. Phần giá trị đó phải được ghi nhận và chia sẻ với người sáng tạo.
Công an Hà Nội nhận định việc xử lý các vụ xâm phạm quyền tác giả là “lời cảnh báo mạnh mẽ” đối với hành vi lợi dụng công nghệ số để xâm phạm tài sản trí tuệ nhằm thu lợi. Cơ quan này cũng gắn bảo hộ quyền tác giả với môi trường kinh doanh lành mạnh, kinh tế số và công nghiệp văn hóa.
Lý do “quảng bá miễn phí” không còn thuyết phục
Một lập luận tồn tại nhiều năm: Ca khúc xuất hiện trong karaoke sẽ được hát nhiều hơn, tác giả cũng hưởng lợi về danh tiếng. Karaoke quả thực góp phần kéo dài đời sống của nhiều bài hát. Quan hệ giữa bản hit và thị trường karaoke có tính tương hỗ.
Lợi ích quảng bá không thể thay thế tiền bản quyền. Doanh nghiệp sử dụng ca khúc để làm phong phú kho dữ liệu, tăng sức cạnh tranh và bán thiết bị thì đã khai thác tác phẩm cho mục đích thương mại. Quyền sử dụng phải được xin phép và thanh toán.
Nhạc sĩ Nguyễn Hồng Thuận cho rằng lấy lý do karaoke giúp ca khúc nổi tiếng để né bản quyền là “không hợp tình, hợp lý với tác giả”. Theo anh, tác giả và nhà sản xuất đã đầu tư nhiều chất xám, tài chính để tạo ra một ca khúc thành công. Các bên cùng hưởng lợi từ tác phẩm cần chia sẻ giá trị với người sáng tạo.
Nhạc sĩ Huy Tuấn nhìn nhận câu chuyện bản quyền đã tồn tại “ngay từ khi karaoke bắt đầu phát triển”. Ông tiếc vì nhiều hành vi diễn ra công khai trong thời gian dài nhưng đến nay mới được xử lý và tạo chú ý rộng rãi. Ý kiến ấy phản ánh sự chậm trễ trong cách thị trường nhìn nhận âm nhạc như một tài sản.
Nhạc sĩ Võ Thiện Thanh cho rằng bảo vệ quyền lợi sẽ giúp “người viết nhạc sẽ yên tâm đầu tư”. Doanh nghiệp cũng phải cẩn trọng hơn trong lựa chọn, xin phép và sử dụng tác phẩm. Trả tiền cho sáng tạo tạo ra sự công bằng, đồng thời buộc thị trường chuyên nghiệp hơn.
Tuân thủ bản quyền để xây dựng nên công nghiệp văn hóa
Việt Nam đang đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế quan trọng. Âm nhạc có thể tạo doanh thu qua biểu diễn, phát hành số, quảng cáo, phim ảnh và karaoke.
Mục tiêu này sẽ khó đạt nếu tác phẩm vẫn bị xem là nguồn dữ liệu có thể lấy miễn phí trên internet. Người sáng tác không thể liên tục đầu tư cho sản phẩm mới nếu ca khúc được dùng để bán thiết bị, thu hút khách hàng nhưng tiền tác quyền không trở về đúng nơi.
Bản quyền cũng không phải khoản thu tượng trưng. Năm 2025, VCPMC công bố thu hơn 424 tỉ đồng tiền sử dụng quyền tác giả âm nhạc và phân phối hơn 268 tỉ đồng cho các chủ sở hữu quyền. Tác phẩm có thể tạo nguồn thu đáng kể nếu quá trình khai thác được ghi nhận và thanh toán minh bạch.
Thị trường cần một cơ chế cấp phép thuận tiện. Doanh nghiệp phải biết đơn vị nào đại diện quyền, phạm vi cấp phép, mức phí và thời hạn sử dụng. Chủ sở hữu quyền cũng cần theo dõi được tác phẩm đang được khai thác ở đâu.
Chi phí bản quyền có thể được tính vào giá bán như các chi phí hợp pháp khác. Các doanh nghiệp cùng tuân thủ sẽ tạo môi trường cạnh tranh công bằng. Đơn vị trả tiền cho nội dung không còn chịu bất lợi trước đối thủ lấy nhạc miễn phí.
Vụ Việt KTV còn trong quá trình điều tra. Tác động rộng hơn nằm ở việc thị trường phải nhìn lại nguyên tắc cơ bản: sản phẩm nào tạo doanh thu từ ca khúc thì người sáng tác phải có phần trong doanh thu ấy.
Một đầu karaoke có thể lỗi thời sau vài năm. Ca khúc trong đó sống qua nhiều thế hệ. Người hưởng lợi từ kho nhạc không thể chỉ là đơn vị bán thiết bị và người mua sản phẩm. Giá trị phải quay lại với những người đã tạo ra âm nhạc.

