Nhịp đập công nghệ

An ninh năng lượng Việt Nam trước thách thức kép từ khách quan và chủ quan

Bùi Tú 16/07/2026 09:00

Tại hội thảo “An ninh năng lượng đến năm 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng”, GS.TS Võ Xuân Vinh sẽ trình bày tham luận "An ninh năng lượng đến 2030: Thực trạng, thách thức và hàm ý chính sách cho Việt Nam".

an ninh năng lượng

Quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam đang chịu nhiều áp lực khi phải cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050.

Tình hình hiện tại cho thấy nhu cầu cấp bách phải thay đổi toàn diện về tài chính, thể chế và hạ tầng nhằm đảm bảo nguồn cung điện, đặc biệt khi sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang đẩy nhu cầu tiêu thụ điện năng toàn cầu tăng phi tuyến tính.

Áp lực khổng lồ từ bùng nổ trí tuệ nhân tạo và biến động địa chính trị

An ninh năng lượng đang chịu tác động mạnh mẽ bởi sự phát triển vũ bão của trí tuệ nhân tạo và các trung tâm dữ liệu. Nhu cầu điện năng đang tăng vọt vượt quá giới hạn chịu đựng của hạ tầng lưới điện hiện tại. Dự báo đến năm 2030, mức tiêu thụ điện của các trung tâm dữ liệu trên thế giới sẽ đạt 945 terawatt giờ, tăng hơn gấp đôi và gần bằng tổng lượng điện tiêu thụ của cả nước Nhật Bản hiện nay. Điều này dẫn đến khoảng 20% dự án trung tâm dữ liệu toàn cầu đang có nguy cơ bị đình trệ do nghẽn lưới, thiếu máy biến áp và tình trạng xếp hàng chờ đấu nối kéo dài từ 7 đến 10 năm.

an ninh năng lượng 1
Áp lực khổng lồ từ bùng nổ trí tuệ nhân tạo và biến động địa chính trị.

Song song với đó, sự tái cấu trúc địa chính trị năng lượng toàn cầu tạo ra những đứt gãy nghiêm trọng. Các cuộc xung đột tại khu vực Biển Đỏ hay căng thẳng Mỹ - Iran làm gián đoạn chuỗi cung ứng khí tự nhiên hóa lỏng và than. Eo biển Hormuz hiện là tuyến hàng hải chiến lược, nơi lưu thông 25% lượng dầu mỏ và 19% khí tự nhiên hóa lỏng thương mại toàn cầu, đang đối mặt với nhiều rủi ro. Trong những đợt khủng hoảng, giá khí tự nhiên hóa lỏng đầu vào từng tăng vọt từ mức 12 lên 40 đến 50 USD mỗi triệu đơn vị nhiệt Anh (MMBTU).

Mức giá này đẩy chi phí phát điện vượt ngưỡng 20 cent Mỹ mỗi kilowatt giờ, vượt xa khả năng chi trả của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Sự cạnh tranh nguồn cung gay gắt giữa châu Âu và châu Á cũng có thể dẫn đến thâm hụt 120 tỉ mét khối khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu trong giai đoạn 2026 đến 2030. Mục tiêu phát triển 22.524 megawatt điện khí tự nhiên hóa lỏng đến năm 2030 của Việt Nam do đó trở nên vô cùng nhạy cảm với biến động giá quốc tế.

Nút thắt nội tại về nguồn cung, tài chính và hạ tầng

Đánh giá theo khung bốn tiêu chí, Việt Nam đối mặt với rủi ro cao về tính sẵn có, khả năng tiếp cận và mức giá năng lượng hợp lý. Nguồn than nội địa đang dần cạn kiệt, buộc hệ thống phải gia tăng sự phụ thuộc vào than nhập khẩu.

Chỉ tính riêng tháng 10/2025, lượng than nhập khẩu đã đạt 4,83 triệu tấn, tăng 11,3% so với cùng kì. Dù nhiệt điện than chỉ chiếm 32% công suất lắp đặt, sản lượng phát điện thực tế từ nguồn này trong quý I/2026 vẫn lên tới 56,5%. Trong khi đó, lưới truyền tải chậm phát triển dẫn đến sự lãng phí năng lượng sạch, điển hình là việc phải cắt giảm công suất điện gió và điện mặt trời tại Ninh Thuận, Bình Thuận.

Các nguồn năng lượng khác như thủy điện đã khai thác 77% tiềm năng kinh tế và ngày càng chịu tác động tiêu cực từ rủi ro khí hậu. Việc triển khai các dự án khí đốt nội địa quy mô lớn như Cá Voi Xanh hay Lô B cũng bị chậm trễ do nhà đầu tư quốc tế e ngại những rủi ro liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông.

an ninh năng lượng 2
Nút thắt nội tại về nguồn cung, tài chính và hạ tầng.

Vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay là nút thắt tài chính, xuất phát từ việc giá bán lẻ điện được giữ ổn định ở mức thấp trong nhiều năm. Mức giá bình quân 1.864 đồng mỗi kilowatt giờ có sự chênh lệch rất lớn so với chi phí biến đổi thực tế của nhiều nhà máy điện, vốn có lúc chạm ngưỡng gần 4.000 đồng mỗi kilowatt giờ do giá nhiên liệu nhập khẩu và tỉ giá tăng cao. Hậu quả là Tập đoàn Điện lực Việt Nam gánh chịu thiệt hại.

Khung pháp lý thiếu ổn định cũng làm giảm sức hút đầu tư tư nhân, minh chứng qua việc chưa có dự án điện gió ngoài khơi nào được phê duyệt đầu tư chính thức dù mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2030 đến 2035 là vô cùng tham vọng. Chu kì phát triển của các dự án này kéo dài từ 6 đến 10 năm, khiến khoảng thời gian 2025 đến 2026 trở thành thời điểm quyết định đang đóng lại rất nhanh. Lưới điện hiện là điểm nghẽn toàn hệ thống, với nhu cầu vốn đầu tư lên tới 12 tỉ USD mỗi năm, trong khi hệ thống lưu trữ điện ở quy mô thương mại gần như chưa tồn tại.

Giải pháp đồng bộ cho an ninh năng lượng

Để phá vỡ vòng lặp phản hồi tiêu cực, an ninh năng lượng đòi hỏi những cải cách thể chế và tài chính đồng bộ. Ưu tiên hàng đầu là cải cách thị trường điện, bắt đầu bằng lộ trình áp dụng biểu giá hai thành phần từ tháng 1/2026 và tiến tới thị trường bán lẻ cạnh tranh từ tháng 1/2027. Tập đoàn Điện lực Việt Nam cần được tái cơ cấu trong năm 2026 theo hướng tách bạch khâu phát điện, truyền tải và phân phối, đi kèm với cơ chế bù đắp an sinh xã hội độc lập.

Nhằm tạo dựng niềm tin, nhà nước cần giữ nguyên các quy định cốt lõi về đấu thầu, giá cả trong tối thiểu 5 năm và xem xét các cơ chế bảo lãnh quốc tế cho nghĩa vụ thanh toán của bên mua. Việc đẩy nhanh quá trình giải ngân 7,04 tỉ USD cho 24 dự án Chuyển đổi Năng lượng Công bằng đã qua sàng lọc sẽ đóng vai trò khơi thông dòng vốn.

an ninh năng lượng 3
Giải pháp đồng bộ cho an ninh năng lượng.

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo có thể được tận dụng làm đòn bẩy thông qua việc gắn phát triển năng lượng tái tạo trực tiếp với nhu cầu của các trung tâm dữ liệu. Hiện tại, nhóm doanh nghiệp công nghệ chiếm khoảng 40% số lượng hợp đồng mua bán điện doanh nghiệp toàn cầu, tạo ra một nguồn vốn đầu tư vô cùng ổn định cho năng lượng sạch. Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm quốc tế như lộ trình trung tâm dữ liệu xanh của Singapore hay mô hình Thái Lan thí điểm 2 gigawatt mua bán điện trực tiếp vào năm 2026.

Song song với đó, nhà nước cần thúc đẩy đầu tư lưới điện theo mô hình đối tác công tư, tổ chức đấu thầu năng lực lưu trữ điện và đa dạng hóa nguồn cung cấp khí tự nhiên hóa lỏng để dự trữ chiến lược đạt tối đa từ 30 đến 45 ngày tiêu thụ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là một cơ hội hẹp nhưng then chốt để giải quyết dứt điểm ba ưu tiên về giá điện, cơ cấu ngành và khởi động các dự án năng lượng chiến lược.

Nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lí, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp, ngày 17/7/2026, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) cùng Tạp chí Một Thế Giới tổ chức Hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng” tại Khách sạn Tao Đàn (35 Nguyễn Trung Trực, phường Bến Thành, TP.HCM).

Nổi bật
      Mới nhất
      An ninh năng lượng Việt Nam trước thách thức kép từ khách quan và chủ quan
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO