AI

Bùng nổ đầu tư vào AI ở châu Á nhưng người tiêu dùng chưa được hưởng lợi

Bùi Tú • 21/10/2026 19:33

Làn sóng đầu tư vào AI đang thúc đẩy xuất khẩu, thu hút vốn và tạo động lực tăng trưởng cho nhiều nền kinh tế châu Á.

Tuy nhiên, những thành quả này chủ yếu tập trung trong một số doanh nghiệp và ngành công nghiệp nhất định, chưa chuyển hóa thành sức mua hay cải thiện đời sống của số đông người dân. Trung Quốc và Thái Lan là những ví dụ cho thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa tăng trưởng kinh tế và khả năng hưởng lợi của người tiêu dùng.

đầu tư vào AI
Các nước châu Á đang đầu tư vào AI. Ảnh: IDC

Đầu tư vào AI thúc đẩy xuất khẩu nhưng lợi ích tập trung vào một số doanh nghiệp

Làn sóng đầu tư vào AI đang tạo ra một chu kì tăng trưởng mới tại châu Á, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất thiết bị điện tử, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng công nghệ. Nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm phục vụ AI giúp nhiều nền kinh tế gia tăng xuất khẩu, đồng thời thu hút những khoản đầu tư lớn từ các tập đoàn công nghệ.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Hàng xa xỉ (Business of Luxury Summit) tại Bangkok hôm thứ Ba, sự khởi sắc của các ngành công nghiệp liên quan đến AI chưa đồng nghĩa với việc người dân có thêm tiền để chi tiêu.

Hội nghị do Financial Times và Nikkei tổ chức, quy tụ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chuyên gia để thảo luận về những chuyển động của nền kinh tế, thị trường tiêu dùng và ngành hàng xa xỉ. Một trong những vấn đề được đặt ra là liệu làn sóng đầu tư AI có đang tạo hiệu ứng lan tỏa đến tiêu dùng nội địa hay không.

Dan Wang, Giám đốc phụ trách Trung Quốc của tổ chức nghiên cứu rủi ro chính trị Eurasia Group, cho rằng câu trả lời tại Trung Quốc hiện vẫn là chưa. Theo bà, hoạt động đầu tư AI ở nước này tập trung vào một số ít doanh nghiệp lớn, được hỗ trợ đáng kể từ nguồn vốn của chính phủ.

Điều đó khiến lợi ích kinh tế từ AI khó lan tỏa rộng rãi đến các hộ gia đình. Dù các công ty công nghệ và những ngành công nghiệp liên quan ghi nhận tăng trưởng, người lao động trong các lĩnh vực khác không nhất thiết được hưởng lợi tương ứng thông qua việc làm, tiền lương hay thu nhập.

Vấn đề càng trở nên phức tạp khi nền kinh tế Trung Quốc vẫn phải đối mặt với những khó khăn mang tính cơ cấu. Theo Wang, sự suy yếu kéo dài của thị trường bất động sản đang bù trừ một phần những lợi ích mà tăng trưởng xuất khẩu và đầu tư công nghệ mang lại.

Bất động sản từng là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Trung Quốc, đồng thời tạo việc làm cho hàng triệu người. Khi lĩnh vực này suy thoái, tác động không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp địa ốc mà còn lan sang xây dựng, vật liệu, dịch vụ tài chính và nhiều ngành nghề liên quan.

Đặc biệt, giá nhà giảm và triển vọng thị trường thiếu tích cực có thể khiến các hộ gia đình thận trọng hơn trong chi tiêu. Với nhiều người Trung Quốc, bất động sản là một phần quan trọng trong tài sản tích lũy. Khi giá trị tài sản suy giảm, tâm lí tiêu dùng cũng dễ bị ảnh hưởng.

Wang nhận định những nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm vực dậy thị trường nhà ở đến nay chưa đạt nhiều kết quả. Bà dự báo giá nhà tại nước này có thể tiếp tục giảm cho đến năm 2030. Nếu kịch bản này xảy ra, áp lực lên niềm tin tiêu dùng và quá trình phục hồi kinh tế sẽ còn kéo dài.

Thái Lan đối mặt tăng trưởng hình chữ K

Trung Quốc không phải nền kinh tế duy nhất chứng kiến khoảng cách giữa tăng trưởng đầu tư và sức mua của người dân. Thái Lan cũng đang trải qua tình trạng tương tự, khi ngành điện tử hưởng lợi từ làn sóng AI nhưng nền kinh tế nói chung vẫn tăng trưởng tương đối chậm.

Pipat Luengnaruemitchai, nhà kinh tế thuộc Tập đoàn Tài chính Kiatnakin Phatra, cho biết đầu tư liên quan đến AI đã thúc đẩy hoạt động sản xuất và xuất khẩu thiết bị điện tử của Thái Lan. Tuy nhiên, những thành quả này chưa tạo ra tác động rõ rệt đối với khả năng chi tiêu của người tiêu dùng.

Theo ông, Thái Lan đang chứng kiến một mô hình tăng trưởng hình chữ K (K-shaped growth), trong đó các ngành và nhóm doanh nghiệp hưởng lợi từ xu hướng mới tiếp tục đi lên, trong khi những lĩnh vực khác vẫn gặp khó khăn.

Hình ảnh chữ K được sử dụng để mô tả tình trạng nền kinh tế phân hóa thành hai hướng. Một nhánh đi lên đại diện cho những doanh nghiệp, ngành nghề có khả năng tận dụng cơ hội mới, chẳng hạn lĩnh vực AI và điện tử. Nhánh còn lại đi xuống hoặc phục hồi chậm, phản ánh khó khăn của các ngành truyền thống đang chịu áp lực cạnh tranh.

Pipat cho rằng những ngành chiến thắng trong làn sóng AI đang hoạt động tốt, nhưng nhiều lĩnh vực truyền thống vẫn phải đối mặt với vấn đề năng lực cạnh tranh yếu. Sự phân hóa này khiến tăng trưởng xuất khẩu và đầu tư không chuyển hóa thành mức cải thiện đồng đều về thu nhập trong toàn xã hội.

Đây là một thách thức đáng chú ý đối với Thái Lan, nền kinh tế vốn phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu và sản xuất công nghiệp. Khi một số ngành công nghệ tăng trưởng nhanh nhưng các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động vẫn trì trệ, lợi ích từ chu kì đầu tư mới có thể chỉ tập trung ở một bộ phận doanh nghiệp và người lao động có kĩ năng phù hợp.

Chẳng hạn, việc xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện điện tử hoặc mở rộng năng lực cung ứng cho chuỗi giá trị AI có thể tạo ra dòng vốn lớn và thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, hiệu ứng đối với tiêu dùng nội địa còn phụ thuộc vào số lượng việc làm được tạo ra, mức lương, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và khả năng phân phối thu nhập.

Nếu phần lớn giá trị gia tăng tập trung ở những doanh nghiệp lớn hoặc các tập đoàn có vốn nước ngoài, tác động trực tiếp đến các hộ kinh doanh nhỏ, người lao động trong ngành dịch vụ và những nhóm thu nhập thấp có thể khá hạn chế.

Vì vậy, tăng trưởng dựa trên AI không tự động giải quyết được những vấn đề kinh tế vốn tồn tại từ trước. Những hạn chế về năng suất, sức cạnh tranh và chất lượng việc làm vẫn có thể khiến một bộ phận lớn người dân đứng ngoài chu kì tăng trưởng mới.

Chu kì đầu tư vào AI có thể làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập

Louise Loo, chuyên gia kinh tế trưởng phụ trách châu Á tại Oxford Economics, cho rằng sự phát triển của AI đang thúc đẩy đầu tư vào toàn bộ chuỗi giá trị công nghệ và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, mức tăng trưởng ở một số lĩnh vực liên quan vẫn còn hạn chế và khó tạo ra lợi ích trên diện rộng cho toàn bộ nền kinh tế.

Theo bà, trong bất kì chu kì đầu tư siêu lớn nào, phần đáng kể của cải được tạo ra thường tập trung vào những người sở hữu doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với triển vọng tiêu dùng, bởi lợi ích từ tăng trưởng không được phân bổ đồng đều giữa chủ sở hữu vốn, người lao động và các nhóm dân cư khác.

Nhận định này phản ánh một đặc điểm đáng chú ý của nền kinh tế AI. Khác với một số chu kì công nghiệp trước đây, khi mở rộng sản xuất có thể kéo theo nhu cầu lao động lớn trên diện rộng, đầu tư vào AI thường đòi hỏi nguồn vốn, công nghệ và nhân lực chuyên môn cao. Các doanh nghiệp sở hữu hạ tầng tính toán, dữ liệu, công nghệ lõi và năng lực triển khai có thể nắm giữ phần lớn giá trị kinh tế.

Trong khi đó, những doanh nghiệp nhỏ hoặc người lao động không có đủ kĩ năng để tham gia vào các lĩnh vực mới có nguy cơ hưởng lợi ít hơn. Ngay cả khi AI giúp tăng năng suất và giảm chi phí hoạt động, lợi ích đó cũng không nhất thiết được chuyển thành tiền lương cao hơn hoặc giá hàng hóa, dịch vụ thấp hơn cho người tiêu dùng.

Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn AI phát triển mạnh. Các chỉ số như GDP, xuất khẩu hay tổng vốn đầu tư có thể tăng nhanh, nhưng chưa chắc phản ánh đầy đủ mức cải thiện trong đời sống của phần đông dân cư.

Đối với các chính phủ châu Á, thách thức không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư vào AI hay mở rộng năng lực sản xuất thiết bị công nghệ. Quan trọng hơn là xây dựng những cơ chế giúp lợi ích từ quá trình này lan tỏa đến các ngành kinh tế khác, doanh nghiệp vừa và nhỏ và người lao động.

Điều đó có thể đòi hỏi đầu tư vào giáo dục, đào tạo kĩ năng số, hỗ trợ doanh nghiệp truyền thống ứng dụng công nghệ và cải thiện khả năng tham gia của các nhà cung ứng nội địa vào chuỗi giá trị mới.

Trường hợp Trung Quốc cho thấy một ngành công nghệ phát triển mạnh vẫn có thể bị hạn chế tác động nếu các động lực kinh tế khác, đặc biệt là bất động sản và tiêu dùng, tiếp tục suy yếu. Trong khi đó, Thái Lan cho thấy xuất khẩu và đầu tư tăng trưởng không đủ để bảo đảm sức mua của người dân nếu những ngành truyền thống vẫn gặp khó khăn về năng lực cạnh tranh.

Làn sóng AI vì thế có thể mở ra cơ hội tăng trưởng lớn cho châu Á, nhưng cũng làm nổi bật một nghịch lí: nền kinh tế có thể ngày càng giàu lên nhờ công nghệ trong khi nhiều người tiêu dùng vẫn chưa cảm nhận được sự cải thiện tương xứng. Thành công của chu kì đầu tư này sẽ không chỉ được đo bằng số vốn đổ vào AI hay tốc độ tăng xuất khẩu, mà còn bằng khả năng chuyển hóa những thành quả đó thành thu nhập, việc làm và sức mua thực tế của người dân.

Nổi bật
      Mới nhất
      Bùng nổ đầu tư vào AI ở châu Á nhưng người tiêu dùng chưa được hưởng lợi
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO