Kinh tế

Cách để thịt heo, gà... trong nước 'lật ngược thế cờ' trước thịt nhập siêu rẻ

Đình Long-Nuyễn Tuyết • 07/10/2026 06:44

Khi có niềm tin của người tiêu dùng, ngành chăn nuôi trong nước sẽ có thêm lợi thế để cạnh tranh với thịt nhập khẩu.

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang chịu sức ép ngày càng lớn từ thịt nhập khẩu giá rẻ, trong khi giá thành sản xuất trong nước vẫn cao, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định và dịch bệnh tiếp tục là rủi ro lớn.

Trao đổi với Một Thế Giới về vấn đề này, ông Nguyễn Trí Công - Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, nơi được xem là “thủ phủ” của ngành chăn nuôi cả nước- cho rằng sức ép từ thịt nhập khẩu là vấn đề ngành chăn nuôi trong nước phải đối mặt, nhưng giải pháp căn cơ không nằm ở việc ngăn nhập khẩu mà ở nâng cao nội lực, giảm giá thành và tạo niềm tin với người tiêu dùng.

ong-tri.jpg
Ông Nguyễn Trí Công: Khi chúng ta đã tham gia các hiệp định thương mại thì việc nhập khẩu là điều đương nhiên. Vấn đề của ngành chăn nuôi chúng ta là phải nâng cao nội lực để cạnh tranh với thịt nhập khẩu

Giá thành là điểm yếu lớn của chăn nuôi trong nước

-Phóng viên: Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập tới 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, tăng 5,6% về lượng; riêng thịt heo nhập khẩu tăng gần 19%, trong khi giá nhập khẩu bình quân chỉ khoảng 45.000 đồng/kg. Theo ông, vì sao thịt ngoại ngày càng vào Việt Nam mạnh như vậy trong khi sản xuất trong nước về cơ bản vẫn đáp ứng được nhu cầu? Trong nhiều nguyên nhân, đâu là nguyên nhân chính?

-Ông Nguyễn Trí Công: Trước hết phải nhìn ở góc độ thương mại đa phương. Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại với các nước. Khi chúng ta xuất khẩu được hàng hóa thì các nước cũng có quyền đưa hàng hóa vào Việt Nam. Đây là vấn đề thương mại mà chúng ta phải nhìn nhận. Nói cách khác, chúng ta không thể ngăn cản hay cấm cản. Bởi nếu chúng ta làm như vậy thì họ cũng có thể làm như vậy với sản phẩm của Việt Nam

Còn việc thời gian gần đây thịt nhập khẩu về nhiều hơn, theo tôi trước hết là do thương nhân thấy có lợi nhuận thì họ nhập. Trước đây, có thời điểm giá heo hơi trong nước lên 65.000 - 70.000 đồng/kg. Khi giá trong nước cao, thương nhân thấy nhập khẩu có lợi thì họ sẽ đưa hàng về nhiều.

Nhưng hiện nay giá heo hơi trong nước đã giảm, như ở Đồng Nai và nhiều nơi chỉ còn khoảng 50.000 đồng/kg. Khi giá trong nước xuống thấp thì thịt nhập khẩu cũng khó cạnh tranh hơn.

Vì vậy, lượng thịt nhập khẩu có sự tương quan với giá thịt trong nước. Khi giá trong nước tăng cao, thương nhân thấy có lợi nhuận thì nhập khẩu tăng; khi giá trong nước giảm xuống thì lợi thế của thịt nhập khẩu cũng giảm theo.

“

Việc quan trọng nhất là phải tìm cách hạ giá thành, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, đồng thời cải tiến con giống, nâng chất lượng và ứng dụng công nghệ.

Ông Nguyễn Trí Công

- Có một nghịch lý là người chăn nuôi trong nước đang phải chịu chi phí thức ăn, con giống, thú y, nhân công... khá cao, trong khi thịt nhập khẩu từ những nước có quy mô chăn nuôi lớn lại có giá rất cạnh tranh. Theo ông, điểm yếu lớn nhất khiến thịt Việt Nam khó cạnh tranh hiện nay nằm ở giá thành sản xuất, quy mô, chuỗi phân phối hay một vấn đề nào khác?

-Ông Nguyễn Trí Công: Như tôi đã đề cập, khi chúng ta đã tham gia các hiệp định thương mại thì việc nhập khẩu là điều đương nhiên, khó tránh khỏi. Vấn đề của chúng ta là phải nâng cao nội lực, không còn cách nào khác.

Có thể nhìn sang Trung Quốc. Trước đây, đây họ cũng là một trong những nước nhập khẩu nhiều sản phẩm chăn nuôi. Nhưng khi họ cải thiện được năng suất, giảm được giá thành thì không những không cần nhập mà còn có thể xuất khẩu.

Việt Nam cũng phải đi theo hướng này. Hiện nay chúng ta có một bất lợi rất lớn là phải nhập khẩu khoảng 70 - 80% nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi. Trong khi đó, ngành chăn nuôi lại chịu thêm tác động của dịch bệnh, khiến giá thành sản xuất tăng cao.

Do đó, việc quan trọng nhất là phải tìm cách hạ giá thành, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, đồng thời cải tiến con giống, nâng chất lượng và ứng dụng công nghệ.

Riêng với chăn nuôi gà, trình độ của Việt Nam hiện nay không thua kém nhiều nước. Nhưng bất lợi vẫn nằm ở nguyên liệu đầu vào và giá thành sản xuất.

Trong thời gian qua, giá nguyên liệu nhập khẩu biến động mạnh, trong khi giá sản phẩm chăn nuôi có thời điểm xuống thấp. Nếu không giải quyết được bài toán này thì sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi sẽ còn hạn chế.

Không thể chỉ trông chờ vào rào cản kỹ thuật

- Một số ý kiến cho rằng Việt Nam cần siết chặt hơn các rào cản kỹ thuật, kiểm soát chặt tuổi vật nuôi, thời gian khai thác, chất lượng và thời hạn sử dụng đối với thịt nhập khẩu, nhằm tránh nguy cơ các loại thịt cận hạn sử dụng, hàng tồn kho hoặc sản phẩm loại thải từ nước ngoài tìm đường vào Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về lo ngại này? Theo ông, các quy định và khâu kiểm soát hiện nay đã đủ chặt chưa?

-Ông Nguyễn Trí Công: Rào cản kỹ thuật là vấn đề cần quan tâm, nhưng tiêu chuẩn của các nước hiện nay cũng rất tốt. Chúng ta đã tham gia các hiệp định thương mại nên không thể tùy ý dựng rào cản để ngăn hàng hóa nhập khẩu.

Đối với những lô hàng nhập khẩu chính ngạch, hiện nay đã có truy xuất nguồn gốc và các quy định kiểm tra, kiểm soát. Thời gian qua có phát hiện một số trường hợp thịt hết hạn sử dụng, nhưng theo tôi đó chủ yếu là những trường hợp nhỏ lẻ. Còn hàng nhập khẩu chính ngạch thì đã có các khâu kiểm tra, kiểm soát tương đối chặt chẽ.

Điều quan trọng là phải tiếp tục kiểm tra, kiểm soát tốt an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc để bảo đảm hàng hóa đưa vào thị trường đạt yêu cầu.

“

Nếu chúng ta bảo đảm được an toàn thực phẩm, kiểm soát tốt dịch bệnh và tạo được niềm tin cho người tiêu dùng thì thịt trong nước vẫn có lợi thế.

Ông Nguyễn Trí Công

thịt-nhap-khau-dong-lanh 5
Nhiều siêu thị, nhà hàng, bếp ăn công nghiệp, cơ sở chế biến... ưu tiên thịt đông lạnh nhập khẩu vì giá rẻ, nguồn cung ổn định và phù hợp với nhu cầu chế biến. Ảnh: Mai Đình

Thịt mát là lợi thế của sản phẩm trong nước

- Thực tế thị trường cho thấy nhiều nhà hàng, bếp ăn công nghiệp, cơ sở chế biến ưu tiên thịt đông lạnh nhập khẩu vì giá rẻ, nguồn cung ổn định và phù hợp với nhu cầu chế biến. Như vậy, nếu chỉ kêu gọi người tiêu dùng “ủng hộ thịt Việt” thì có đủ để giải quyết vấn đề hay ngành chăn nuôi trong nước phải thay đổi cách sản xuất và tổ chức thị trường? Theo ông, cần thay đổi điều gì trước tiên?

-Ông Nguyễn Trí Công: Thực ra chúng ta cũng có lợi thế về xu hướng tiêu dùng. Người Việt Nam vẫn có xu hướng sử dụng cả thịt nóng và thịt mát.

Đặc biệt, xu hướng tiêu dùng hiện nay cũng đang chuyển dần từ thịt nóng sang thịt mát do người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến an toàn thực phẩm. Đây là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, nếu chúng ta biết cách khái thác. Hơn nữa, nếu chúng ta bảo đảm được an toàn thực phẩm, kiểm soát tốt dịch bệnh và tạo được niềm tin cho người tiêu dùng thì thịt trong nước vẫn có lợi thế trước sản phẩm nhập khẩu.

Một vấn đề nữa là cơ cấu sản phẩm. Ở nhiều nước, người dân chủ yếu sử dụng những phần thịt có giá trị cao như thịt cốt lết, thịt mông. Những phần như chân giò, móng, mỡ... được tiêu thụ ít hơn nên họ có thể bán với giá thấp mà vẫn có lợi nhuận. Đây cũng là bài học để ngành chăn nuôi Việt Nam nhìn lại cơ cấu sản phẩm và thị trường của mình để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

-Trong bối cảnh thịt nhập khẩu ngày càng tạo sức ép, người chăn nuôi và doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để giảm giá thành nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, an toàn và truy xuất nguồn gốc? Có nên tiếp tục phát triển theo hướng chăn nuôi nhỏ lẻ hay phải nhanh chóng hình thành các chuỗi liên kết từ con giống, thức ăn, trang trại, giết mổ đến phân phối?

-Ông Nguyễn Trí Công: Người chăn nuôi và các doanh nghiệp phải tìm cách giảm giá thành, giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nâng năng suất, cải tiến giống, ứng dụng công nghệ và đặc biệt là kiểm soát tốt dịch bệnh, an toàn sinh học.

Thực tế người chăn nuôi Đồng Nai hiện nay đã có sự thích nghi và trình độ kỹ thuật khá tốt. Chăn nuôi heo, gà đều ứng dụng kỹ thuật cao. Nhưng vấn đề quan trọng vẫn là làm sao kiểm soát tốt dịch bệnh và bảo đảm an toàn thực phẩm.

Khi giá chăn nuôi trong nước xuống thấp, thương nhân nhập khẩu cũng khó có lợi nhuận nên sẽ giảm nhập. Nhưng về lâu dài, ngành chăn nuôi vẫn phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, bởi không thể dựa vào việc giá trong nước thấp để hạn chế nhập khẩu.

“

Điều quan trọng nhất là phải tạo được niềm tin cho người tiêu dùng đối với thực phẩm trong nước. An toàn thực phẩm rất quan trọng.

Ông Nguyễn Trí Công

thịt-nhap-khau-dong-lanh 2
Xu hướng tiêu dùng hiện nay cũng đang chuyển dần từ thịt nóng sang thịt mát do người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến an toàn thực phẩm. Ảnh: Nguyễn Tuyết

-Từ góc độ của Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, nơi được xem là "thủ phủ" của ngành chăn nuôi cả nước, ông kiến nghị Nhà nước cần làm gì ngay để nâng sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung?

-Ông Nguyễn Trí Công: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải tạo được niềm tin cho người tiêu dùng đối với thực phẩm trong nước. Tôi muốn nhấn mạnh rằng "an toàn thực phẩm rất quan trọng".

Hiện nay Nhà nước đã phân cấp cho các địa phương, nên vấn đề quan trọng là làm sao kiểm tra, kiểm soát tốt hơn về an toàn thực phẩm.

Nói một cách đơn giản, Việt Nam có dân số hơn 100 triệu người và mức tiêu thụ thịt hiện nay còn khá lớn. Song vấn đề mấu chốt là phải làm sao sản phẩm sạch, bảo đảm an toàn, kiểm soát tốt nguồn cung... để người tiêu dùng yên tâm sử dụng sản phẩm trong nước.

Bởi khi có niềm tin của người tiêu dùng, ngành chăn nuôi trong nước sẽ có thêm lợi thế để cạnh tranh với thịt nhập khẩu.

Xin cảm ơn ông!

Chăn nuôi đóng góp 27-28% GDP ngành nông nghiệp

Ngành chăn nuôi tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nông nghiệp Việt Nam với quy mô khoảng 33 tỉ USD, đóng góp 27-28% GDP toàn ngành. Lĩnh vực này không chỉ tạo sinh kế cho hàng triệu hộ dân mà còn góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm, ổn định kinh tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hơn một thập kỷ qua, ngành chăn nuôi duy trì tốc độ tăng trưởng 4,5-6%/năm. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có quy mô chăn nuôi lớn trên thế giới, với tổng đàn lợn đứng thứ 5 và gia cầm đứng thứ 9.

Năm 2025, sản lượng thịt đạt 8,68 triệu tấn, trứng 21,4 tỉ quả và sữa tươi 1,3 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi vượt 2,2 tỉ USD. Trong khi đó, thuốc và vaccine thú y của Việt Nam đã được xuất khẩu đến gần 50 quốc gia.

Dù vậy, ngành chăn nuôi vẫn đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, nguy cơ dịch bệnh và tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất lượng, an toàn sinh học và truy xuất nguồn gốc.

Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thực phẩm chất lượng cao ngày càng tăng và các hiệp định thương mại tự do mở thêm cơ hội xuất khẩu, chuyển đổi theo hướng bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là hướng đi quan trọng.

Các công nghệ về chọn tạo giống, dinh dưỡng, chăn nuôi thông minh và sản xuất vaccine đang được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và kiểm soát rủi ro. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và công nghệ môi trường được kỳ vọng hỗ trợ quản lý, truy xuất nguồn gốc và tối ưu chuỗi giá trị.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, tăng 5,6% về lượng so với cùng kỳ năm 2025.

Nổi bật
      Mới nhất
      Cách để thịt heo, gà... trong nước 'lật ngược thế cờ' trước thịt nhập siêu rẻ
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO