Kinh tế

CEO Trung tâm Tài chính Quốc tế: Việt Nam cần thu hút dòng vốn xanh

Bùi Tú • 23/10/2026 14:45

Việt Nam đang đứng trước bài toán kép là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh và đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Theo ông Richard McLellan, Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) tại TP.HCM chia sẻ tại Hội nghị Quốc tế về Phát triển Bền vững (ISSD) 2026 do Đại học RMIT tổ chức vào sáng 23/10, để hiện thực hóa những tham vọng này, Việt Nam không chỉ cần chiến lược mà còn phải huy động được nguồn vốn quốc tế quy mô lớn. VIFC được kì vọng trở thành một mắt xích quan trọng, đưa TP.HCM thành cửa ngõ tài chính phục vụ giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

CEO Richard McLellan
Ông Richard McLellan, Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC). Ảnh: Bùi Tú

Tăng trưởng nhanh nhưng không thể bỏ qua chuyển đổi xanh

Trong bài phát biểu về phát triển bền vững và vai trò của tài chính, ông McLellan đã nhắc lại kinh nghiệm làm việc tại McKinsey & Company cách đây khoảng 15-16 năm, khi tham gia nhiều dự án quốc tế về quản lí tài nguyên, đặc biệt là nước và nông nghiệp bền vững.

Một trong những trải nghiệm đáng nhớ của ông là dự án tại Saudi Arabia, nơi ông từng sinh sống cùng gia đình trong vài năm để nghiên cứu các vấn đề về nông nghiệp và nguồn nước.

Theo ông, từ thập niên 1970, Saudi Arabia từng theo đuổi mục tiêu tự chủ nông nghiệp bằng cách trợ cấp mạnh cho hoạt động trồng trọt, trong đó có lúa mì. Chính sách này tạo ra động lực kinh tế khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp mở rộng ngay cả trong điều kiện tự nhiên không phù hợp. Quốc gia này từng tiêu thụ khoảng 22 tỉ m³ nước mỗi năm, trong khi lượng nước mưa chỉ vào khoảng 2 tỉ m³. Phần lớn nguồn nước được sử dụng cho nông nghiệp, kể cả để trồng lúa mì, lúa gạo và chuối giữa sa mạc.

Việc khai thác nước ngầm quá mức để phục vụ mục tiêu tự chủ lương thực là ví dụ cho thấy một chính sách phát triển có thể tạo ra thành quả kinh tế trước mắt nhưng phải trả giá lớn về tài nguyên trong dài hạn.

Từ kinh nghiệm đó, ông McLellan đúc kết một bài học mà ông cho rằng có ý nghĩa với mọi nền kinh tế: Những mô hình phát triển không bền vững cuối cùng cũng sẽ phải chấm dứt và được thay thế bằng những mô hình phù hợp hơn.

“Dù lựa chọn con đường phát triển nào, nếu con đường đó vốn không bền vững thì sớm muộn cũng phải chấm dứt và được thay thế bằng một mô hình tốt hơn. Vấn đề là chúng ta muốn trở thành những người tiên phong đổi mới hay tiếp tục chần chừ bám trụ với cách làm cũ”, ông McLellan nói.

Theo ông, càng trì hoãn quá trình chuyển đổi, cái giá phải trả để đi từ mô hình hiện tại sang phát triển bền vững sẽ càng lớn. Đây cũng là lời cảnh báo đối với những quốc gia đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, khi nhu cầu mở rộng sản xuất và tiêu dùng có thể tạo ra áp lực lớn lên hệ sinh thái.

Với Việt Nam, thách thức này thể hiện rõ trong ngành năng lượng. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hàng chục triệu người đang gia nhập tầng lớp trung lưu, kéo theo nhu cầu sử dụng điện ngày càng lớn. Trong khi đó, hệ thống cung ứng điện vẫn phụ thuộc đáng kể vào các nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Ông McLellan đề cập mức tăng tiêu thụ năng lượng khoảng 13-15% mỗi năm, cho thấy áp lực rất lớn đối với khả năng cung ứng điện. “Việt Nam đang đối mặt với một thách thức kép: vừa phải duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao, vừa phải thực hiện chuyển đổi xanh. Chúng ta không thể đơn giản đóng cửa ngay các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch mà vẫn kì vọng nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh”, ông McLellan nhận định.

Ông đánh giá Việt Nam đang sở hữu một trong những câu chuyện phát triển hấp dẫn trên thế giới, với khoảng ba thập niên duy trì tốc độ tăng trưởng từ 5-8% và đang có thêm động lực để tăng tốc. Những thay đổi về nhân khẩu học, cải cách thể chế và sự mở rộng của nền kinh tế đang tạo điều kiện để Việt Nam tiến lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.

“Nếu Việt Nam thành công trong việc đưa hơn 100 triệu người dân từ nghèo khó đến thịnh vượng chỉ trong một thế hệ, đó sẽ là một trong những câu chuyện phát triển ấn tượng nhất của thế kỉ”, ông McLellan đánh giá.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa triển vọng đó, tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng sản xuất và thu hút đầu tư như trước đây. Chất lượng nguồn vốn, khả năng tiếp cận tài chính quốc tế và mức độ bền vững của các dự án sẽ ngày càng có ý nghĩa quyết định.

VIFC mở đường thu hút dòng vốn quốc tế tại TP.HCM

Theo ông McLellan, một trong những hạn chế hiện nay là nguồn lực tài chính phục vụ quá trình chuyển đổi của Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào hệ thống ngân hàng trong nước. Đây là kênh huy động vốn quan trọng nhưng có giới hạn về khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn.

“Bạn không thể chỉ có những chiến lược hay mục tiêu tốt đẹp trên giấy mà không có nguồn lực tài chính đi kèm. Chỉ khi phân bổ được nguồn vốn cho các ưu tiên bền vững, chúng ta mới có thể biến những mục tiêu đó thành hiện thực”, ông McLellan nhấn mạnh.

Theo ông, Việt Nam không thiếu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tức dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thành lập, mua lại hoặc mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII), bao gồm dòng vốn đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác, vẫn chưa đạt quy mô như kì vọng.

Sự khác biệt giữa hai dòng vốn này có ý nghĩa quan trọng. Trong khi FDI góp phần phát triển nhà máy, cơ sở sản xuất và tạo việc làm, FII có thể giúp mở rộng chiều sâu thị trường vốn, tăng khả năng huy động nguồn lực cho doanh nghiệp và các dự án hạ tầng dài hạn.

Để đạt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam cần huy động lượng vốn quốc tế lớn hơn, đa dạng hóa các kênh tài trợ và xây dựng môi trường đủ hấp dẫn để các định chế tài chính toàn cầu tham gia.

Đây cũng là cơ sở để Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam được hình thành tại TP.HCM, với định hướng trở thành một khu vực có cơ chế quản lí đặc thù, tạo điều kiện thu hút các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và doanh nghiệp quốc tế.

Ông McLellan cho biết hàng trăm nhà đầu tư quốc tế đang quan tâm đến khả năng sử dụng VIFC làm cửa ngõ tiếp cận cơ hội tăng trưởng tại Việt Nam.

Nếu được triển khai hiệu quả, trung tâm này không chỉ phục vụ nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp trong nước mà còn có thể tạo điều kiện để các nguồn vốn quốc tế tham gia vào những lĩnh vực cần đầu tư dài hạn như năng lượng tái tạo, hạ tầng xanh, giao thông bền vững và công nghệ.

Hành trình 10 năm xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh

Một điểm được ông McLellan nhấn mạnh là VIFC không phải dự án có thể hoàn thiện trong một vài năm. Theo ông, đây là hành trình kéo dài khoảng 10 năm, trong đó giai đoạn hiện tại tập trung đặt nền móng về thể chế, quy định và cơ chế vận hành.

“Chúng tôi luôn nhấn mạnh rằng đây là hành trình 10 năm, chứ không phải câu chuyện có thể hoàn thành trong hai năm. Giai đoạn hiện nay là thời điểm đặt nền móng, xây dựng hệ thống quy định và thiết lập những cấu phần cần thiết cho một trung tâm tài chính quốc tế”, ông McLellan cho biết.

Theo ông McLellan, nền tảng pháp lí của VIFC bắt đầu từ Nghị quyết 222 được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2025, tiếp đó là tám nghị định hướng dẫn triển khai được ban hành vào tháng 12 cùng năm. Ông đánh giá tiến độ xây dựng khung pháp lí này phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam.

Trong giai đoạn đầu, trọng tâm là hoàn thiện các quy định vận hành, cấp phép ngân hàng, quản lí tài sản và những cấu phần cần thiết để hình thành một hệ sinh thái tài chính hoàn chỉnh.

Đáng chú ý, quá trình xây dựng VIFC còn nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ Anh thông qua chương trình UK PACT, nhằm đưa các tiêu chuẩn xanh vào khung pháp lí. Đây là yếu tố quan trọng bởi một trung tâm tài chính quốc tế trong giai đoạn hiện nay không thể chỉ cạnh tranh bằng quy mô vốn hay ưu đãi thuế, mà còn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về minh bạch, quản trị rủi ro và phát triển bền vững.

Đối với dòng vốn quốc tế, các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Những dự án có khả năng chứng minh hiệu quả môi trường, quản lí rủi ro tốt và đáp ứng các chuẩn mực báo cáo sẽ có lợi thế hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn.

Do đó, việc lồng ghép tiêu chuẩn xanh vào hệ thống quy định ngay từ giai đoạn xây dựng VIFC có thể giúp TP.HCM định hình một trung tâm tài chính phù hợp với xu hướng đầu tư toàn cầu, đồng thời hỗ trợ Việt Nam huy động vốn cho quá trình chuyển đổi năng lượng và phát triển kinh tế xanh.

“Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam cần một cách tiếp cận toàn diện, cam kết tài chính dài hạn và một hệ sinh thái pháp lí đồng bộ. VIFC tự hào được trở thành một phần trong nỗ lực đó”, ông McLellan chia sẻ.

Như kinh nghiệm mà ông McLellan đúc kết từ những dự án bền vững trước đây, chuyển đổi là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề không phải Việt Nam có chuyển đổi hay không, mà là chủ động đi trước để nắm bắt cơ hội hay chờ đến khi những giới hạn của mô hình cũ buộc phải thay đổi. Trong lựa chọn đó, tài chính và một trung tâm kết nối dòng vốn quốc tế như VIFC sẽ giữ vai trò ngày càng quan trọng.

Nổi bật
      Mới nhất
      CEO Trung tâm Tài chính Quốc tế: Việt Nam cần thu hút dòng vốn xanh
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO