Chuyên gia Phạm Chi Lan: Công lao của 80% người dân phải được ghi nhận
Người chúng tôi gặp buổi chiều nay là một phụ nữ có vóc dáng nhỏ nhắn, ngồi bên bình hoa trong căn nhà yên tĩnh, có một chú chó nhỏ chạy lăng xăng. Tên tuổi và tầm vóc của bà, cũng như tầm ảnh hưởng với các chính sách kinh tế Việt Nam hàng chục năm qua thì không hề nhỏ. Bà là chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.
.jpg)

- Xin chúc mừng bà ra mắt cuốn sách Kinh tế tư nhân Việt Nam rất thành công. Lý do hay cú hích lớn nhất nào ở thời điểm này khiến bà và các đồng nghiệp, các bạn bè viết và ra mắt sách trong năm nay?
- Bà Phạm Chi Lan: Chúng tôi nung nấu về vấn đề phát triển của kinh tế tư nhân ở nước ta từ lâu rồi. Thế nhưng phải đến Nghị quyết 68 mới cho chúng ta khả năng để có một cái nhìn lại đầy đủ từ Đổi mới đến nay, xem kinh tế tư nhân phát triển ra sao, đã đóng góp vào nền kinh tế qua từng thời kỳ như thế nào, tại sao nó chưa phát triển được như mong muốn, và tại sao bây giờ kinh tế tư nhân được Nghị quyết 68 khẳng định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Mục tiêu chính của chúng tôi là muốn nhìn lại cả quá trình từ đó rút ra bài học, đánh giá hiện trạng của khu vực tư nhân ở Việt Nam về các mặt và nhìn về tương lai xem với nền tảng như vậy, với thể chế chính sách hiện nay, khu vực tư nhân làm thế nào để thực hiện được vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế và đóng góp vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước giàu.
Năm nay là tròn một năm Nghị quyết 68. Chúng tôi đã phải rút ngắn quá trình làm sách cho kịp thời điểm ra mắt này để có nhiều sự quan tâm hơn đến kinh tế tư nhân.
Những hiệu ứng ban đầu cho thấy cuốn sách được đón nhận và khen ngợi. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, các ban nghiên cứu của Đảng, của Chính phủ, các viện, các trường đều yêu cầu chúng tôi cung cấp thêm một số sách nữa. Chúng tôi cũng đã dành một số sách lớn để gửi tặng các nhà nghiên cứu về kinh tế tư nhân để tham khảo.

- Trong mấy chục năm qua các chuyên gia cũng như đông đảo người dân khi nhắc đến bà luôn nhớ ngay là một trong những người có thể nói là gác cửa bền bỉ nhất và lên tiếng thường xuyên nhất về kinh tế tư nhân. Trong cuốn sách này, điều gì là điều bà trăn trở nhất?
Bà Phạm Chi Lan: Một trong điều trăn trở nhất gửi gắm vào cuốn sách này, cũng là lý do đầu tiên chúng tôi làm sách, là sự công nhận với kinh tế tư nhân.
Trên thực tế thì kinh tế tư nhân đã đóng vai trò rất đáng kể trong nền kinh tế. Tôi năm nay đã tròn 60 năm làm việc. Ngay từ những ngày đầu tiên làm ở Phòng thương mại, vào thời kỳ chiến tranh khi Mỹ ném bom miền Bắc tôi đã đi tìm hiểu xem tác hại về kinh tế như thế nào. Trong những chuyến đi đó, tôi nhận thức được kinh tế của người dân đúng là hậu phương lớn, không chỉ nuôi sống miền Bắc mà còn là hậu phương phục vụ cho cuộc chiến tranh. Chính những người dân, người thợ thủ công bình thường đã đóng góp trực tiếp và rất lớn. Đương nhiên các nhà máy của nhà nước được sơ tán an toàn, bảo vệ phòng không tốt, đều có vai trò rất lớn rồi. Nhưng người dân và các cơ sở thủ công của họ ở khắp nơi, gần như vẫn cắm tại chỗ và duy trì hoạt động sản xuất rất hiệu quả.
Nhưng ngày đó là kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được thừa nhận. Kinh tế tư nhân không được thừa nhận mặc dù ta cho phép tiểu thương, tiểu chủ hoạt động. Bản thân hệ thống của tư nhân vẫn hình thành, hoạt động và nó vẫn là đa số so với doanh nghiệp nhà nước.


Trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp, nông dân đưa vào hợp tác 95% đất đai, chỉ giữ lại 5% thôi, nhưng sau này bao nhiêu nghiên cứu đã cho thấy phần nuôi sống các gia đình nông dân chủ yếu là 5% đó. Đấy cũng chính là lý do ông Kim Ngọc, từ cuối những năm 1960, đã đưa ra khoán hộ. Ông ấy nhìn thấy rõ là mảnh đất 5% hiệu quả hơn rất nhiều so với cái mảnh 95%.
Sau năm 1975, thành phần kinh tế tư nhân vốn đang có khá mạnh ở phía Nam dần trở thành quốc doanh, hợp doanh; nông nghiệp thì cũng đưa mô hình hợp tác vào. Cũng may chỉ trong một thời gian ngắn thôi, chừng 2-3 năm, chúng ta dừng dần chủ trương đó để hoạt động nông nghiệp trở lại.
Cấu phần kinh tế tư nhân ấy dù chưa được thừa nhận trên pháp lý nhưng nó vẫn tồn tại trên thực tế, và là phần có đông người dân tham gia nhất. Chúng tôi ước khoảng 80% người dân sống trong hoạt động kinh tế tư nhân. Không thể coi 80% đó là bộ phận phi pháp, không được luật pháp công nhận, không được thừa nhận vai trò. Cái đó là vô lý.
80% - họ vừa tự nuôi sống nhau, vừa đóng góp nuôi xã hội, nhiều biết bao nhiêu.
Sau Đại hội VI, chúng ta có chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đến tháng 12/1987 chúng ta có luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhưng cuối năm 1990 mới ban hành luật Công ty và luật Doanh nghiệp tư nhân - chính thức thừa nhận có công ty và có doanh nghiệp tư nhân. Thừa nhận họ, nhưng tất cả hoạt động vẫn phải xin phép nhà nước. Đến năm 1999 mới có luật Doanh nghiệp, trả lại quyền tự do kinh doanh cho người dân - theo lời Thủ tướng Phan Văn Khải.
Quyền này, Hiến pháp 1992 đã ghi, rồi Chính phủ và Quốc hội, bằng luật Doanh nghiệp, trao lại cho người dân. Thế nhưng đó là quá trình cũng rất gian nan: Tính từ Đổi mới 1986 đến 1999, và khi Luật được thi hành năm 2000 cũng mất 14 năm trời.

- Bà mong muốn cuốn sách sẽ là một khuyến nghị chính sách hay là một cái biên niên sử về kinh tế tư nhân, hay một điều gì khác nữa?
- Bà Phạm Chi Lan: Chúng tôi cũng không dám kỳ vọng nó là biên niên sử, mà chỉ là cuốn sách đầu tiên về kinh tế tư nhân, đề cập đến toàn bộ quá trình phát triển của kinh tế tư nhân Việt Nam.
Chúng tôi còn lùi xa hơn nữa để nhìn gốc rễ về lịch sử của Việt Nam. Trong sách có bài của các chuyên gia nhìn về kinh tế tư nhân từ thời Pháp thuộc, qua đó chứng tỏ cha anh chúng ta đã rất kiên cường: khi Pháp có những quy định ngặt nghèo để chèn ép nhưng vẫn có Bạch Thái Bưởi, Trương Văn Bền, Sơn Hà… hình thành và phát triển với quy mô và khả năng cạnh tranh không nhỏ. Đồng thời cũng có bài viết cho thấy trong cái nhìn của xã hội Việt Nam với kinh tế tư nhân vẫn còn đầy những định kiến và nghi kỵ, dù đã được giảm bớt nhiều trong quá trình Đổi mới.
Thông điệp của chúng tôi không chỉ nói đến khó khăn, mà khẳng định có những cái chúng ta làm được: Nông nghiệp có khoán 10, hay luật Doanh nghiệp 1999 thực sự là một cuộc cách mạng để doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh lên. Trước 1999, suốt 10 năm trời thực hiện 2 luật cũ, chỉ có 40.000 doanh nghiệp tư nhân, đa số là nhỏ. Ngay năm đầu tiên có luật Doanh nghiệp, đã có 20.000 doanh nghiệp tư nhân được thành lập, năm sau có 25.000. Bây giờ chúng ta có 1 triệu doanh nghiệp tư nhân và có những doanh nghiệp lớn, có 7 tỉ phú theo Forbes. Trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đã có hơn 300 là tư nhân.
Một bên hội nhập, một bên cải cách thể chế, hai cánh này tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển.


- Khi mà nói về kinh tế tư nhân, rất hay nghe thấy từ “điểm nghẽn, nút thắt”. Hiện giờ, Nghị quyết 68 công nhận kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng nhất, chắc hẳn các điểm nghẽn cũng chưa hẳn đã hết hoàn toàn?
- Bà Phạm Chi Lan: Tôi vô cùng mừng khi một trong những phát biểu đầu tiên của Tổng bí thư Tô Lâm là: Thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, và phải tháo gỡ điểm nghẽn đó cho kinh tế phát triển.
Nếu khoa học công nghệ có Nghị quyết 57 gỡ bỏ các điểm nghẽn thì Nghị quyết 68 chính là “57 của kinh tế”. Trước đây, trong Báo cáo Việt Nam 2035 (do Ngân hàng Thế giới phối hợp cùng Chính phủ Việt Nam nghiên cứu) đã nêu ra một loạt vấn đề về thể chế để phát triển kinh tế tư nhân. Từ lúc đưa ra vào năm 2016 đến lúc có Nghị quyết 68 thì những điểm nghẽn của kinh tế tư nhân vẫn còn đó. Tính từ Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế tư nhân (2017), coi kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, cho đến trước Nghị quyết 68, không có chuyển biến trên thực tế bao nhiêu.
- Trong tổng kết một năm thực hiện Nghị quyết 68 đã nhắc đến nhiều điểm nghẽn. Theo bà là cái gì lớn nhất?
- Bà Phạm Chi Lan: Từ khi Nghị quyết 68 đi vào thực tế mới có một năm và thời gian vừa qua chúng ta sắp xếp lại bộ máy của Chính phủ, Quốc hội, các địa phương, nên chưa đủ thời gian để làm được tất cả, nhất là về thể chế. Thứ nữa là di sản cũ để lại nặng nề quá. Năm 1999, Thủ tướng Phan Văn Khải lập Tổ thi hành luật Doanh nghiệp do ông Trần Xuân Giá làm tổ trưởng, có rà soát các văn bản, tìm những nghẽn, giấy phép con không phù hợp với luật Doanh nghiệp… Tổ tranh luận với các bộ rất nhiều, có những cái không đồng ý với nhau phải đưa lên cấp cao nhất là Thủ tướng làm trọng tài. Kết quả trong 400 giấy phép con lúc đó, xóa bỏ được 158 cái, vài chục giấy phép con nữa biến thành điều kiện kinh doanh.
Đến trước khi Nghị quyết 68 ra đời, chúng ta lại rà soát xem còn bao nhiêu điều kiện kinh doanh, thì con số, trời ơi: 15.802. Tôi nhớ con số lẻ tại vì nó quá lớn, không thể tưởng tượng nổi.

Thì ra giấy phép con hồi sinh, nó mọc lại và cũng biến tướng rất nhiều hình dạng khác nhau. Chúng ta hội nhập quốc tế, tham gia nhiều FTA, lẽ ra phải giảm bớt điều kiện kinh doanh theo cam kết quốc tế, nhưng mà ngược lại tăng lên rất nhiều. Vì vậy trong năm đầu tiên khi có Nghị quyết 68, Chính phủ đã cắt bỏ, giảm bớt nhiều điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng phát hiện tình trạng: nói giảm mà thực ra không giảm. Thay vì nhiều người ta gom vào làm một.
Cái đó là cái lớn nhất, chứng tỏ là tư duy nhận thức của lãnh đạo các nơi chưa theo kịp với nhận thức của lãnh đạo cấp cao. Trong khi Bộ chính trị đã xem doanh nghiệp tư nhân là một động lực quan trọng nhất, thì cấp dưới vẫn muốn quản lý họ, chưa theo kịp tư duy Nhà nước phải tạo môi trường tốt cho họ phát triển. Cách quản lý thì vẫn cũ, bằng giấy phép, bằng thủ tục, trong khi công cụ khác ví dụ thuế sẽ minh bạch và tốt hơn nhiều.
Tôi thấy đây đó vẫn còn lợi ích riêng, tư duy xin cho vẫn còn. Khi phải xin thì người ta còn phải bôi trơn, nếu bỏ giấy phép thì mất cái đó. Khi xóa bỏ giấy phép con hồi làm luật Doanh nghiệp, có nơi còn kêu: Thôi, đừng xóa cái này, làm thế là đập vỡ nồi cơm của chúng tôi.
Cái nồi cơm đó, người ta dựa vào quá lâu.


- Bà nhắc rất nhiều không khí bùng nổ, cải cách vào khoảng 1999-2000. Bà nhớ nhất những gì vào thời điểm đó?
- Bà Phạm Chi Lan: Thay đổi từ những người kinh doanh nhỏ nhất, người nông dân trở đi. Nông dân từ chỗ tự cấp tự túc thành sản xuất cho thị trường, Việt Nam xuất khẩu gạo được nước ngoài gọi là kỳ tích. Tố chất kinh doanh trong người Việt Nam vẫn còn đấy đã được khơi dậy mạnh mẽ.
Cũng với tố chất đó, tôm, cá, hạt tiêu, nông sản… vùng lên. Hạt tiêu chiếm 50% thị trường toàn cầu rồi đưa vào thành mặt hàng chiến lược. Hàng tiêu dùng phát triển mạnh, Bitis, Bitas ra đời, các nhà dệt may da giày từ gia công dần chiếm tỉ trọng xuất khẩu lớn, sử dụng hàng triệu lao động. Tôi rất ấn tượng với nhiều chủ xí nghiệp khi đó không có kinh nghiệm gì cả, làm giáo viên không đủ sống thì ra làm kinh doanh nhưng rất chịu khó học hỏi vươn lên.
Không khí đổi mới, dấu ấn đổi mới lúc đó là như vậy.

- Xin quay lại với Tổ thi hành luật Doanh nghiệp: Trong quá trình thực thi, có tranh cãi nào gay gắt với các cơ quan, các địa phương mà bà còn nhớ?
- Bà Phạm Chi Lan: Gay gắt nhất có lẽ là lúc Chính phủ trình Luật ra Quốc hội. Có những vị có uy tín lo lắng rằng lỡ 1 đêm có 1 triệu doanh nghiệp đăng ký thì nhà nước quản lý sao nổi? Thôi thì quản đến đâu mở đến đó. Tư duy này, gần đây Tổng Bí thư Tô Lâm cũng vẫn phải nói là cần xóa bỏ. Rồi có vị chủ tịch tỉnh nói: Tôi làm chủ tịch tôi biết ai tốt. Ai tốt mới cho làm kinh doanh. Đó là điều không có luật pháp nào cho phép một vị chủ tịch làm, là một sai lầm rất lớn về tư duy. Thực ra lúc đầu, người dân làm kinh doanh không phải vì mong lợi nhuận gì đâu, mà họ bí bách quá phải làm để sống.
Cũng nhờ đa số đại biểu khác và nhờ truyền thông đưa ra ý kiến của nhiều tầng lớp từ chuyên gia đến người lao động (như báo Nhân Dân có bài “Hãy bóc lột tôi đi”), thành tiếng nói chung ủng hộ luật Doanh nghiệp, cuối cùng Quốc hội đã thông qua với 85,7% phiếu thuận.
- Điều gì giúp các thành viên Tổ thi hành luật Doanh nghiệp kiên định dù gặp nhiều trở ngại như vậy?
- Bà Phạm Chi Lan: Chúng tôi đã đi tham vấn các doanh nghiệp ở khắp nơi. Anh Nguyễn Đình Cung nói với tôi: Những cuộc tham vấn này hay quá chị ạ. Chúng tôi tham vấn từ khi dự thảo là bản thứ 5, đến khi trình Quốc hội là bản thứ 15, đã tiếp nhận rất nhiều ý kiến doanh nghiệp vào. Khi luật ban hành, nhiều doanh nghiệp nói: Sung sướng quá, đây là luật của mình vì ý kiến mình đưa ra đã được ghi nhận vào trong luật. Đấy là cái giúp chúng tôi có động lực lớn, vì đã có niềm tin như vậy thì mình phải làm bằng được việc thi hành luật tốt nhất, thuyết phục nhất.
Luật Doanh nghiệp thông qua đã khó, thi hành còn khó hơn. Nhìn chung quá trình phát triển doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không hề bằng phẳng. Có lúc văn bản rất tốt thì không thi hành được, có lúc lại ra văn bản không tốt làm tình hình kém đi. Rất gập ghềnh. Vì vậy có luật tốt, doanh nghiệp chưa vội mừng vì còn xem thực thi thế nào.

- Trong nhiều năm tham gia các tổ nghiên cứu, tổ tư vấn, bà có kỷ niệm nào với các Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải?
- Bà Phạm Chi Lan: Với Thủ tướng Võ Văn Kiệt, có lẽ là lúc ông triệu tập cuộc họp ở TPHCM để nghe các doanh nghiệp tư nhân nói về các vấn đề của họ, khoảng năm 1993. Tôi đại diện VCCI vào để nói về 2 luật Công ty và Doanh nghiệp tư nhân, trong đó đòi hỏi mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải xin phép, theo các điều tra mỗi doanh nghiệp muốn hình thành phải có 35 chữ ký và con dấu của các cơ quan khác nhau, chi phí tương đương 1 năm thu nhập mà thời hạn giấy phép có cái chỉ 3-6 tháng. Thủ tục rầy rà tốn kém bào mòn sức lực và làm doanh nghiệp không phát triển được.
Tôi được phát biểu đầu tiên, Thủ tướng rất chăm chú nghe và ghi chép. Đại diện một số bộ thì có vẻ khó chịu ra mặt. Tôi phát biểu xong, một số doanh nghiệp tư nhân phía Nam phát biểu thẳng là họ đồng tình, có dẫn chứng cụ thể. Kết quả là Thủ tướng đưa ra yêu cầu phải sửa 2 luật này vì nó cản trở khu vực tư nhân.
Sau đó Thủ tướng gọi tôi tham gia tổ tư vấn với lời dặn dò: Tham gia không khen Chính phủ, mà cần ý kiến cái gì chưa tốt, có thể tốt hơn không, và cần phản biện.
Thủ tướng Phan Văn Khải là người rất nhân hậu. Khi chúng tôi kiến nghị không thể sửa 2 luật cũ mà làm luật mới, Thủ tướng Kiệt hết nhiệm kỳ nên giao cho Thủ tướng Khải. Ông Khải rất quan tâm việc lấy ý kiến doanh nghiệp, và luôn dặn không để ảnh hưởng nhóm doanh nghiệp nhỏ, hộ gia đình. Ông nói: Họ không thể theo các quy định khắt khe được. Với những dự án quá lớn, ảnh hưởng nhiều người, như thủy điện Sơn La, ông Khải không chọn quy trình 3 vì đầu tư quá lớn, ảnh hưởng đến quá nhiều bà con. Suốt nhiệm kỳ của Thủ tướng Khải, năm nào cũng chỉ 50% ngân sách chi thường xuyên, còn 50% dành đầu tư phát triển. Tiết kiệm hết sức chi thường xuyên.

- Bà nhận xét gì về vai trò của các cơ quan tư vấn, chuyên gia độc lập, cơ quan phản biện trước đây và bây giờ?
- Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ vai trò các cơ quan phản biện là vô cùng quan trọng. Tổng thống Mỹ bao giờ cũng có 2 nhóm, nghe cả 2. Ở Việt Nam, có những nhà lãnh đạo thấy rõ vai trò của tư vấn, phản biện. Ông Kiệt ngay từ sớm đã lập nhóm Thứ sáu, có những vị làm việc trong chính quyền cũ. Ông cũng là người đầu tiên lập ra tổ tư vấn của Thủ tướng năm 1993. Ông nói: Chính phủ có đội ngũ của Chính phủ, nhưng cũng cần những người nói tiếng nói của lòng dân để ý Đảng gặp lòng dân. Tổ tư vấn lập ra để phản biện, thậm chí để cản.
Các tổ chức xã hội, như VCCI, cũng được lắng nghe, dù ban đầu thành lập chỉ nhỏ xíu thôi (tôi là người thứ 21 về đó). Nhỏ xíu nhưng mình là người thực sự quan sát được các vấn đề của xã hội. Trước đây VCCI có trong danh sách các cơ quan lấy ý kiến phản biện, gần đây vai trò đó tập trung về Mặt trận Tổ quốc.


- Kinh tế hiện nay nhìn vĩ mô rất khả quan, nhưng cũng nhiều thách thức, nhiều doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Bà nhìn nhận thế nào về sức bền của doanh nghiệp nội?
- Bà Phạm Chi Lan: Trong cuốn sách Kinh tế tư nhân Việt Nam, một mục tiêu quan trọng là đưa ra khuyến nghị bản thân doanh nghiệp tư nhân phải thay đổi, phải đổi mới, phải đi vào sáng tạo, đi vào công nghệ, nâng cao chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Khá nhiều khuyến nghị đối với kinh tế tư nhân chứ không chỉ với Nhà nước.
Chúng ta thấy rõ là doanh nghiệp đông, nhưng chưa mạnh. Quy mô thì lại có phần nhỏ đi trong những năm gần đây, anh Trần Đình Thiên gọi đùa là li ti hóa. Buồn nhất là từ thời kỳ dịch Covid đến bây giờ, vẫn chưa hết tình trạng mỗi năm số doanh nghiệp đăng ký mới tăng lên, nhưng số rút khỏi thị trường có năm là 70% của số đăng ký mới, có năm là 80%, có năm tới gần 90%. Cứ 10 người đăng ký mới thì 9 người rút.
Mà cái số rút mới là thật. Rút là không còn sản phẩm, không còn nộp thuế, không còn công ăn việc làm và thu nhập của biết bao gia đình cũng như bản thân người chủ. Nhiều khi lại mất thị trường luôn nữa.
- Nguyên nhân li ti hóa là vì sao, thưa bà?
- Bà Phạm Chi Lan: Vì doanh nghiệp vẫn gặp những khó khăn cơ bản nhất. Một là quyền tiếp cận các nguồn lực, quá eo hẹp, quá khó khăn. Nguồn lực về tín dụng, đất đai, lao động ở nước ta vẫn ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước, sau đó là đầu tư nước ngoài.
Cái thứ hai là cạnh tranh không bình đẳng. Cùng một sân chơi, nhưng doanh nghiệp tư nhân nhỏ cùng chơi với các ông lớn doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nước ngoài thì lấy đâu sức cạnh tranh đổi với họ? Rồi thì cả hai ông lớn đều có những sân sau của họ. Đầu tư nước ngoài mua hàng lẫn của nhau. Điều tra về đầu tư nước ngoài cho thấy tỉ lệ mua hàng của Việt Nam đâu đó chỉ được khoảng 20-30% thôi, còn phần lớn vẫn mang từ nước ngoài vào hoặc mang công ty của họ vào làm.
Thế nên khi đã có doanh nghiệp lớn thì giá trị lớn nhất là phải dẫn dắt được các doanh nghiệp khác cùng đi lên, để cho doanh nghiệp nhỏ trở thành trung bình, trung bình thì trở thành lớn dần lên. Chứ nếu các ông ấy chơi riêng với nhau, vẫn chèn ép thì lấy đâu doanh nghiệp tư nhân phát triển được.

- Nhà nước cần có chính sách gì mạnh hơn để có đội ngũ doanh nghiệp tư nhân lớn?
- Bà Phạm Chi Lan: Khuyến nghị của chúng tôi bao năm nay vẫn là thay đổi cách phân bổ nguồn lực - đang ngày càng hiếm hoi. Nên ưu tiên cho lĩnh vực nào đang cần phát triển, chứ không theo thành phần kinh tế. Ai làm tốt thì ưu tiên, chứ không cứ phải doanh nghiệp nhà nước. Đây không phải vì lợi ích của kinh tế tư nhân, mà vì lợi ích quốc gia, đưa nguồn lực vào nơi làm hiệu quả nhất. Ngay Nhà nước làm mà vẫn có những con đường đắt nhất hành tinh, trong khi ngành ô tô Vinfast làm tốt chứ? Tất nhiên Vinfast cũng được Nhà nước ủng hộ nhiều, mới có đất mà làm, chứ trước, thời ông Bùi Ngọc Huyên (Vinaxuki) thì chỉ là giấc mơ.
Thứ hai là môi trường cạnh tranh bình đẳng, các dự án đầu tư công phải cho doanh nghiệp tư nhân tham gia. Cái này gần đây Nhà nước làm được. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã mời các doanh nghiệp tư nhân tham gia các dự án đầu tư công lớn, kể cả đường sắt cao tốc Bắc Nam là dự án lớn nhất nước cũng mời doanh nghiệp tư nhân đến bàn. Khi đó tôi lên tiếng trên báo chí, nói rằng đó là việc chưa từng có ở Việt Nam. Trước đó chỉ có doanh nghiệp nhà nước, mời đầu tư nước ngoài hay vay vốn ODA, mà quên là doanh nghiệp tư nhân cũng làm được. Chúng ta có luật đầu tư PPP (đối tác công tư) nhưng không thực hiện được bao nhiêu, gần đây mới làm được.
Điều kiện thứ ba là bảo vệ quyền tài sản, kể cả tài sản vật chất và tài sản trí tuệ. Mãi sau này vẫn có doanh nghiệp sợ một ngày đẹp trời, Nhà nước tuyên bố muốn tham gia liên doanh chẳng hạn, sợ “vỗ béo để làm thịt”. Muốn sáng tạo thì phải bảo hộ sở hữu trí tuệ. Nhiều doanh nghiệp tư nhân bảo tôi, thủ tục chứng minh và chi phí để đăng ký bảo hộ rầy rà. Cơ quan bảo hộ cũng chưa đủ độ tin cậy với người ta. Bao nhiêu người trẻ Việt Nam sang nước khác đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đăng ký kinh doanh, rồi quay về Việt Nam làm.


- Có một băn khoăn là nếu phân bổ nguồn lực theo lĩnh vực ưu tiên, thì với việc Việt Nam đã đưa ra 10 nhóm công nghệ và sản phẩm chiến lược, có lẽ nguồn lực vẫn hướng đến các doanh nghiệp lớn, thưa bà?
- Bà Phạm Chi Lan: Tiêu chí quan trọng là lĩnh vực cần thiết và hiệu quả, còn lựa chọn nhóm như thế nào cũng vẫn cần có phản biện. Chẳng hạn về trí tuệ nhân tạo, Giáo sư Hồ Tú Bảo - một trong những chuyên gia hàng đầu Việt Nam về AI - cho là Việt Nam tốt nhất nên thông minh hóa những cái đang làm được, để các doanh nghiệp thông minh hơn, giỏi hơn trong ngành của họ. Điều đó sẽ giúp cho nền kinh tế vượt lên, các doanh nghiệp vượt lên. Một số dự án trọng điểm cũng cần thật, nhưng chạy theo thế giới không phải dễ, trong khi thông minh hóa những ngành sản xuất thế mạnh đang có của Việt Nam sẽ giúp chúng ta đứng vững được.
Báo cáo Việt Nam 2035 chọn lựa 3 thế mạnh cho Việt Nam, tôi nghĩ nó vẫn có lý: Một là công nghệ thông tin, hai là du lịch, ba là nông nghiệp. Về nông nghiệp thì Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) vẫn xếp Việt Nam trong số ít ỏi các nước có thế mạnh nông nghiệp. Nói đơn giản, AI hay tự động hóa không thay thế được lương thực, không tự làm ra cái ăn. Nông nghiệp vẫn cần. Nếu làm cho nông nghiệp thông minh hơn thì nó sẽ vượt lên rất mạnh. Đó là cái mà tôi vẫn tin.
Cái mà tôi lo nhất bây giờ là chúng ta đang tập trung quá nhiều vào các dự án hạ tầng cùng một lúc. Nguồn vốn bị hút vào đó rất lớn. Lãi suất lên rất cao, vay quá khó, chi phí đầu vào thành quá lớn nên doanh nghiệp không vay nữa. Hầu hết dự án hạ tầng đó cũng dành cho tư nhân nhưng là doanh nghiệp đại gia thôi. Thêm nữa phần lớn các dự án có đối ứng bằng đất đai, đẩy giá bất động sản lên, vốn tiếp tục đổ về bất động sản chứ không phải về công nghiệp, nông nghiệp hay đổi mới sáng tạo như chúng ta mong muốn.


- Các doanh nghiệp trẻ bây giờ có điểm yếu gì, và lời khuyên của bà dành cho các bạn trẻ là gì?
- Bà Phạm Chi Lan: Lứa bây giờ hơn ngày xưa vì tinh thần kinh doanh rất rõ, có khát vọng làm giàu, có năng lực và được học tốt hơn nhiều. Xưa nhiều người khởi nghiệp chỉ vì mưu sinh thôi.
Nhiều người có tinh thần dân tộc. Số người về Việt Nam nhiều dần lên.
Nhưng họ cũng đòi hỏi hơn ở thể chế: Đòi hỏi minh bạch hơn, sòng phẳng, tạo thuận lợi. Họ không chấp nhận những cái mà thế hệ trước phải chấp nhận. Người trẻ dễ mất niềm tin. Vài chuyện xảy ra là sẵn sàng bỏ cuộc, dứt áo ra đi.
Lời khuyên của tôi là nếu đam mê thì phải kiên trì. Phải có sự hợp tác, chung tay và chia sẻ để tránh những phản ứng cực đoan. Hãy chấp nhận sự đa dạng trong xã hội và biết thích ứng.
- Điều gì khiến bà sau bao năm vẫn giữ được ngọn lửa nhiệt huyết, sự thẳng thắn và sắc sảo? Có khi nào bà thấy mệt mỏi?
- Bà Phạm Chi Lan: Mệt mỏi thì có chứ, nản cũng có. Nhưng từ thời nhỏ tôi đã được dạy ở gia đình, ở nhà trường để khắc sâu trong lòng tình yêu với đất nước với dân tộc. Chứng kiến người nông dân làm lụng ra hạt lúa củ khoai, tôi vẫn tâm niệm mình cần phải làm được điều gì đó cho người dân.
Trong cuốn sách, tôi có viết rằng tôi vẫn ấm ức vì sao công lao 80% người dân mà không thừa nhận, các con số thống kê vẫn “dìm” họ xuống. Có lần Tổ tư vấn chúng tôi nói với Thủ tướng Phan Văn Khải: Lẽ ra Chính phủ phải nói cảm ơn người dân, cảm ơn doanh nghiệp, chứ không thể để người dân cứ mãi nói ơn Đảng ơn Chính phủ. Ông Sáu Khải đồng ý, và trong báo cáo hằng năm ông viết: Chính phủ cảm ơn Đảng, cảm ơn nhân dân, cảm ơn doanh nghiệp.
Những chuyện đó đã tạo động lực cho tôi làm việc đến tận lúc này.
* Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện.
