Công nghiệp văn hóa TP.HCM: Từ concert đến GRDP
TP.HCM đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Với tỉ trọng khoảng 5,7% GRDP, công nghiệp văn hóa đang mở thêm dư địa tăng trưởng từ điện ảnh, biểu diễn, du lịch, nội dung số và tài sản trí tuệ.
Tăng trưởng 8,55% và dư địa từ công nghiệp văn hóa
Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP TP.HCM theo giá hiện hành ước đạt 1,55 triệu tỉ đồng, tăng 8,55% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất trong 10 năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,1%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 309.769 tỉ đồng, tăng 9,9%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 967.525 tỉ đồng, tăng 13,2%.
Kết quả này vẫn thấp hơn mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Đảng bộ TP.HCM khóa I ngày 6/7, ông Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM, cho biết để đạt mục tiêu cả năm, quý 3 phải tăng khoảng 11% và quý 4 khoảng 11,8%.
Trong cuộc gặp cộng đồng doanh nghiệp, văn nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa ngày 5/2, ông Trần Lưu Quang nói: “Việc phát triển công nghiệp văn hóa tại TP.HCM là điều mà chúng ta phải làm và nỗ lực làm được”. Bí thư Thành ủy TP.HCM cũng đề nghị tận dụng công sản sau sắp xếp, công viên và không gian công cộng cho hoạt động văn hóa, đồng thời giảm trở ngại thủ tục đối với doanh nghiệp.
Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa tương đương khoảng 3,54% GRDP TP.HCM năm 2020 và tăng lên khoảng 5,7% năm 2025. Thành phố có khoảng 17.670 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và đặt mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa lên trên 7% GRDP vào năm 2030.
Quy mô 5,7% chưa thể đưa công nghiệp văn hóa trở thành lực kéo thay thế công nghiệp, đầu tư, tài chính hay các ngành dịch vụ lớn. Khả năng tạo thêm tăng trưởng nằm nhiều ở sức lan tỏa, khi một khoản chi cho sản phẩm văn hóa có thể kéo theo chi tiêu ở nhiều ngành khác.

Một concert tạo ra bao nhiêu vòng doanh thu?
Nửa đầu năm 2026, trong khi GRDP tăng 8,55%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,2%. Doanh thu du lịch đạt gần 214.000 tỉ đồng, khách quốc tế khoảng 6,4 triệu lượt, khách nội địa hơn 27 triệu lượt. Đây là những thị trường có khả năng hưởng lợi khi hoạt động văn hóa, giải trí phát triển.
Một concert 30.000 khán giả tạo doanh thu trực tiếp từ vé, nhưng khán giả từ địa phương khác còn chi cho đi lại, phòng nghỉ, vận chuyển, ăn uống và mua sắm. Nếu chương trình đủ sức khiến du khách đến TP.HCM và lưu trú thêm một đêm, giá trị thành phố nhận được đã vượt khỏi doanh thu của nhà tổ chức.
Điện ảnh tạo một chuỗi tương tự. Một bộ phim doanh thu vài trăm tỉ đồng tạo việc làm và doanh thu cho diễn viên, đạo diễn, kỹ thuật, thiết bị, hậu kỳ, quảng cáo, phát hành và hệ thống rạp. Khi bộ phim hình thành được thương hiệu nhân vật hoặc câu chuyện đủ mạnh, nguồn thu có thể tiếp tục trên nền tảng số, bản quyền quốc tế, phần phim tiếp theo, trò chơi và sản phẩm thương mại.
Khác biệt nằm ở khả năng chuyển sản phẩm thành tài sản. Một concert kết thúc sau vài giờ biểu diễn chỉ tạo một vòng doanh thu. Một thương hiệu concert có thể tổ chức thường niên, phát hành phim concert, bán sản phẩm dành cho người hâm mộ và khai thác nội dung số sẽ tạo nhiều vòng doanh thu hơn. Một bộ phim kết thúc khi rời rạp cũng khác với một IP có thể tiếp tục khai thác trong nhiều năm.

Có thị trường nhưng còn thiếu chuỗi giá trị
Ông Trần Thế Thuận, Thành ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, từng đặt yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận “quản lý hoạt động văn hóa” sang “kiến tạo thị trường văn hóa”. Cách tiếp cận này mở rộng vai trò của cơ quan quản lý, từ quản lý sản phẩm sang tạo môi trường để sản phẩm bước ra thị trường, trở thành hàng hóa, tài sản và nguồn doanh thu.
TP.HCM ưu tiên phát triển điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo, du lịch văn hóa và thời trang. Hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa các lĩnh vực. Điện ảnh có thể quảng bá điểm đến cho du lịch. Âm nhạc tạo sự kiện cho kinh tế đêm. Thời trang cần thiết kế, nhiếp ảnh, quảng cáo và nền tảng số. Di sản có thể cung cấp chất liệu cho điện ảnh, trò chơi, thiết kế và sản phẩm lưu niệm.
Thành phố vẫn thiếu một số điều kiện để giữ trọn chuỗi giá trị. Hạ tầng biểu diễn quy mô lớn chưa tương xứng với thị trường hơn chục triệu dân. Điện ảnh cần thêm trường quay, cơ sở hậu kỳ và dịch vụ sản xuất đủ sức cạnh tranh. Nhiều sự kiện đông khán giả vẫn dừng ở từng chương trình riêng lẻ, chưa trở thành thương hiệu thường niên đủ mạnh để kéo khách từ bên ngoài.
Một sản phẩm được sáng tạo tại TP.HCM nhưng phải sử dụng phần lớn dịch vụ sản xuất từ nơi khác sẽ làm một phần giá trị rời khỏi địa phương. Khả năng giữ lại các khâu sáng tạo, sản xuất, hậu kỳ, quảng cáo, phân phối và thương mại hóa quyết định công nghiệp văn hóa đóng góp thực tế bao nhiêu vào kinh tế thành phố.
Khoảng trống dữ liệu và giá trị giữ lại
NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, chỉ ra rằng công nghiệp văn hóa chưa được thống kê như một ngành cấp 1 trong hệ thống thống kê quốc gia. Dữ liệu phải bóc tách từ nhiều nhóm ngành, gây khó khăn khi xác định chính xác quy mô và hiệu quả kinh tế.
“Chỉ khi có số liệu chính xác, chúng ta mới có thể đề ra nhiệm vụ và giải pháp phù hợp với thực tiễn vận hành”, bà Nguyễn Thị Thanh Thúy nhận định.
Hạn chế này khiến TP.HCM có thể biết số vé bán ra của một concert hoặc doanh thu phòng vé của một bộ phim, nhưng khó xác định sự kiện đó tạo thêm bao nhiêu đêm phòng khách sạn, doanh thu vận tải, ăn uống, bán lẻ hay việc làm gián tiếp.
Hai concert cùng có 30.000 khán giả chưa chắc tạo ra giá trị kinh tế giống nhau. Một chương trình sử dụng phần lớn nhân lực, kỹ thuật, thiết kế, quảng cáo và sản phẩm thương mại từ doanh nghiệp tại TP.HCM sẽ giữ lại nhiều giá trị hơn chương trình phải mua phần lớn dịch vụ từ bên ngoài. Một bộ phim quay tại thành phố nhưng thực hiện hậu kì ở nơi khác cũng làm một phần giá trị rời khỏi chuỗi sản xuất tại địa phương.
Ở góc độ GRDP, câu hỏi không chỉ là một chương trình bán được bao nhiêu vé mà còn là bao nhiêu giá trị của sản phẩm được tạo ra và giữ lại trong nền kinh tế TP.HCM.

Từ sự kiện đến tài sản trí tuệ
NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, đánh giá thành phố có lợi thế trong điện ảnh, truyền hình, trò chơi điện tử và các nền tảng số. Bà cho rằng công nghiệp sáng tạo nội dung cần được nhìn nhận như một động lực quan trọng trong kinh tế văn hóa.
Một IP được tạo ra tại TP.HCM có thể bán vé ở Hà Nội, phát hành trên nền tảng toàn cầu, bán bản quyền sang nước ngoài hoặc phát triển thành game và sản phẩm thương mại. Doanh thu khi đó không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sức mua của cư dân thành phố. Công nghiệp văn hóa bắt đầu mang đặc tính của một ngành xuất khẩu sản phẩm trí tuệ.
Đây cũng là hướng mở rộng khả năng đóng góp của công nghiệp văn hóa đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số. TP.HCM không chỉ cần thêm người đến thành phố để tiêu tiền mà còn cần những sản phẩm được tạo ra tại đây có khả năng thu tiền từ các thị trường bên ngoài.
Với tỉ trọng khoảng 5,7% GRDP, công nghiệp văn hóa chưa phải lực kéo quyết định tốc độ tăng trưởng của toàn thành phố. Dư địa nằm ở khả năng kết nối sáng tạo, sản xuất, sở hữu trí tuệ, phân phối và xuất khẩu thành một chuỗi kinh tế hoàn chỉnh.
TP.HCM không chỉ cần thêm những sự kiện đông người. Thành phố cần tạo ra những sản phẩm mà sau khi sân khấu đã tháo, bộ phim đã rời rạp hay lễ hội đã kết thúc, dòng tiền vẫn tiếp tục quay trở lại.

