Đầu tư chuyển đổi số: Hoàn thiện cơ chế, nâng hiệu quả ngân sách
Đầu tư công nghệ số cần đúng định hướng, rõ đầu ra, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và hạn chế lãng phí ngân sách nhà nước.
Xung quanh vấn đề trên, phóng viên Tạp chí Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi nhanh với bà Trịnh Thị Trang, Cục Chuyển đổi số quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN).
- Thưa bà, công tác quản lí đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ công nghệ số sử dụng ngân sách nhà nước hiện được đặt trong khuôn khổ pháp lí nào? Những yêu cầu quan trọng nhất là gì?
- Bà Trịnh Thị Trang: Chuyển đổi số (CĐS) gắn với đổi mới phương thức quản lí, điều hành và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, quản lí đầu tư không chỉ là bố trí kinh phí hay triển khai công nghệ, mà còn phải bảo đảm mục tiêu, kết nối dữ liệu và hiệu quả khai thác.

Hệ thống quy định gồm: (1) nhóm các văn bản về định hướng bao gồm Nghị quyết, chiến lược, chương trình, đề án, kiến trúc về CĐS, trong đó Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; (2) các văn bản quy định pháp luật có liên quan như: pháp luật đầu tư công, ngân sách nhà nước, đấu thầu, thanh toán, quyết toán, pháp luật chuyên ngành chuyển đổi số, dữ liệu, an ninh mạng, giao dịch điện tử… (3) Cùng hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật chuyên ngành cần tuân thủ.
Luật CĐS, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật CĐS và 02 Thông tư hướng dẫn Nghị định được Bộ KH&CN ban hành và có hiệu lực đồng thời vào ngày 01/7/2026 là cơ sở pháp lí quan trọng điều chỉnh trực tiếp hoạt động đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ cho CĐS sử dụng ngân sách nhà nước.
Yêu cầu quan trọng đối với các cơ quan, đơn vị trước khi bắt tay vào thực hiện đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ cho CĐS là cần hiểu rõ nguyên tắc xác định nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước CĐS, cần phân biệt vốn đầu tư phát triển với kinh phí chi thường xuyên. Sử dụng vốn nào thì có quy định quy trình, thủ tục của nguồn vốn đó. Vốn đầu tư công được đăng kí, bố trí và giao theo pháp luật về đầu tư công; kinh phí thường xuyên phải tuân thủ pháp luật ngân sách nhà nước và các Nghị định về lập, bố trí, phân bổ, quản lí sử dụng kinh phí chi thường xuyên. Xác định sai tính chất nhiệm vụ hoặc nguồn vốn có thể kéo theo nhiều vướng mắc về thủ tục, tiến độ và quản lí, sử dụng, thanh quyết toán.
- Nghị định số 224/2026/NĐ-CP đề cập những nội dung đáng chú ý nào giúp các cơ quan, địa phương tháo gỡ vướng mắc khi triển khai?
- Bà Trịnh Thị Trang: Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ra đời, được ban hành trong bối cảnh CĐS đã rõ về nội hàm, chủ trương, định hướng, nhiệm vụ trung ương làm gì, địa phương làm gì, thực tế đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ đang vướng gì? Đâu là điểm nghẽn. Chúng tôi cho rằng đây là những thuận lợi rất lớn, rất quan trọng.
Trên cơ sở đó, các quy định mới của Nghị định đã tập trung xử lí những điểm nghẽn lớn đã tồn tại trong nhiều năm qua:
- Nghị định đã làm rõ cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước cho CĐS; quy định cụ thể các nhiệm vụ chi, phân định rõ phạm vi sử dụng nguồn đầu tư công và nguồn chi thường xuyên, đồng thời xác định rõ trách nhiệm chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương chủ động bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện.
- Lần đầu tiên Nghị định quy định đầy đủ cơ chế phát triển thử nghiệm trong CĐS theo quy định của Luật CĐS. Cơ chế này tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm các công nghệ, sản phẩm, giải pháp số mới trong môi trường thực tế có kiểm soát; đồng thời quy định rõ về điều kiện, quy trình, mức hỗ trợ, cơ chế giám sát và trách nhiệm của các bên tham gia, bảo đảm vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát rủi ro.
- Một nội dung rất quan trọng khác là cho phép áp dụng cơ chế đặt hàng doanh nghiệp đối với một số nhiệm vụ CĐS. Cơ chế này không chỉ áp dụng sau giai đoạn thử nghiệm thành công mà còn cho phép đặt hàng doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu lập dự án, thiết kế, triển khai đối với các nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành và các hệ thống có quy mô lớn, có tính chất dùng chung.
- Nghị định cũng cắt giảm đáng kể các thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian triển khai dự án, nhiệm vụ CĐS. Nhiều quy định không còn phù hợp với đặc thù phát triển công nghệ đã được sửa đổi theo hướng linh hoạt hơn, cho phép triển khai thiết kế, xây dựng, phát triển, kiểm thử, nghiệm thu phần mềm theo phương thức “cuốn chiếu”, thiết kế và phát triển đồng thời; giảm các thủ tục trung gian không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chất lượng, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình.
Có thể khẳng định rằng, các quy định mới đã tạo hành lang pháp lí tương đối đầy đủ cho hoạt động đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ CĐS, góp phần tháo gỡ căn bản nhiều điểm nghẽn về thể chế, đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ CĐS trên phạm vi toàn quốc trong thời gian tới.
- Để nguồn vốn ngân sách đầu tư cho CĐS phát huy hiệu quả, các bộ, ngành và địa phương cần ưu tiên giải pháp nào?
- Bà Trịnh Thị Trang: Trước tiên, cần nâng cao chất lượng xác định nhiệm vụ. Mỗi một nhiệm vụ, dự án được đề xuất cần gắn chặt, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, khả năng triển khai và sản phẩm/kết quả đầu tư cụ thể. Các kế hoạch CĐS, kiến trúc số của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan là một căn cứ quan trọng để xác định nhiệm vụ, dự án.

Thứ hai, cần phối hợp giữa đơn vị chuyên môn, tài chính, đấu thầu và đơn vị sử dụng hệ thống. Phối hợp từ đầu giúp làm rõ yêu cầu nghiệp vụ, phương án kĩ thuật, nguồn vốn và trách nhiệm. Với dự án liên ngành, cần chú trọng kết nối, chia sẻ dữ liệu và tránh đầu tư trùng lặp.
Thứ ba, cần coi chất lượng và hiệu quả khai thác là tiêu chí xuyên suốt. Nghiệm thu kĩ thuật chưa đồng nghĩa hệ thống đã phát huy giá trị. Hiệu quả khi đi vào khai thác, vận hành, sử dụng ổn định, đáp ứng nhu cầu người dùng, an ninh mạng, khả năng mở rộng là tiêu chí quan trọng. Lựa chọn nhà thầu, kí kết và thực hiện hợp đồng phải gắn với đầu ra và tiêu chí chất lượng cụ thể.
Với dịch vụ công nghệ số, cơ quan sử dụng cần xác định phạm vi, yêu cầu chất lượng, thời gian cung cấp, và trách nhiệm nhà cung cấp. Dự toán cần dựa trên nguyên tắc thị trường và những thay đổi linh hoạt so với yêu cầu ban đầu. Ưu tiên thuê dịch vụ đối với những hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu được cung cấp dưới dạng dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường.
Cuối cùng, CĐS phải hướng đến kết quả thực chất, lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và hoạt động quản lý làm thước đo. Đầu tư đúng mục tiêu, chọn giải pháp phù hợp, kiểm soát chất lượng và sử dụng ngân sách có trách nhiệm sẽ hạn chế lãng phí, tăng liên thông và nâng cao hiệu quả hoạt động. Mỗi khoản đầu tư cần tạo ra giá trị sử dụng rõ ràng, góp phần thúc đẩy CĐS quốc gia.