Để tăng trưởng 2 con số, điều kiện tiên quyết là đến cuối thế kỷ phải có 1 triệu cán bộ nghiên cứu khoa học
Giai đoạn 2026 - 2045 được định vị là chương mở đầu quan trọng nhất để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: Trở thành quốc gia giàu mạnh, phát triển bền vững và người dân hạnh phúc.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta đang phải đối mặt với những "lực cản" mang tính sống còn về cả nguồn lực con người lẫn động lực công nghệ. Để hiện thực hóa khát vọng này, mô hình phát triển của Việt Nam cần một cuộc cải cách tư duy triệt để, dựa trên hai trụ cột: Bền vững về con người và bứt phá về năng lực nghiên cứu, ứng dụng KH&CN (nghiên cứu và phát triển R&D).

Bài học xương máu từ các kì tích kinh tế châu Á: Cảnh báo nguy cơ tự teo tóp về kinh tế và con người
Nhìn vào lịch sử kinh tế thế giới, việc duy trì tăng trưởng 2 con số liên tục trong 20 đến 40 năm là điều hoàn toàn khả thi. Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là những minh chứng kinh điển. Thế nhưng, cả ba quốc gia thần kì kinh tế này đều có một điểm yếu chí mạng giống nhau: Coi lực lượng lao động nữ tăng liên tục là điều hiển nhiên, vô điều kiện, không coi giữ vững mức sinh thay thế (bình quân 2,1 con/ phụ nữ) là điều kiện tiên quyết để ổn định lao động, tăng trưởng kinh tế bền vững.
Mức sinh của Nhật Bản và Hàn Quốc đã dưới mức thay thế khi là mức thu nhập trung bình, còn mức sinh của Trung Quốc đã dưới mức thay thế khi là nước nghèo. Họ đã khởi động quá trình thiếu lao động và già hóa khi chưa giàu. Hệ quả là kinh tế đình trệ lập tức: Khi lực lượng lao động sụt giảm, nền kinh tế lập tức mất đà (Nhật Bản, Hàn Quốc bị ngay lập tức, Trung Quốc chịu ảnh hưởng sau 10 năm). Tăng trưởng 2 con số tụt xuống còn 1 con số, thậm chí tăng trưởng âm (Nhật Bản).
Hệ lụy thế kỷ: Dự báo sau hơn 100 năm (năm 2100), dân số trong độ tuổi lao động của các nước này sẽ giảm 60-70%, tổng dân số giảm 50-60%. Sau 300 năm, dân số sẽ chỉ còn từ 2 đến 7% so với khi lớn nhất.
Việt Nam cần tránh con đường phát triển "bùng nổ về kinh tế" rồi sau đó tự tiêu vong.
Nhiều người kỳ vọng vào giải pháp nhập cư để bù đắp lao động thiếu hụt như cách Mỹ, Singapore hay Úc đang làm. Nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng, con đường này sẽ bất khả thi sau năm 2053, bởi từ thời điểm đó đến năm 2100, nguồn cung lao động trên toàn cầu sẽ đồng loạt suy giảm, do mức sinh toàn cầu sẽ dưới mức thay thế từ 2031. Toàn thế giới cũng sẽ lâm vào cảnh thiếu lao động, các nước sẽ không thể "mượn" lao động theo nhu cầu từ quốc gia khác.
Triết lý phát triển mới: Đừng đợi giàu rồi mới chăm lo cho đất nước, phát triển bền vững về con người
Lâu nay, thế giới thường nói đến kinh tế tuần hoàn, năng lượng xanh hay bảo vệ môi trường nhưng lại chưa quan tâm đến phát triển bền vững về con người. Ngay cả Chương trình phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (2015 - 2030) cũng quên một yếu tố cốt lõi: Phát triển bền vững về con người.
Thực tế chứng minh: Dù có khoa học công nghệ tiên tiến, GDP đầu người cao, nhưng nếu không tái tạo đầy đủ con người của chính đất nước mình, quốc gia đó sẽ teo tóp dần.
Triết lý “Hãy lo phát triển kinh tế trước, những cái khác tính sau khi đã giàu” qua thực tế của Nhật Bản, Hàn Quốc đã thể hiện là sai lầm. Ở mỗi bước, mỗi giai đoạn phải tính đến phát triển bền vững về con người, ngay từ khi chưa giàu, càng giàu càng phải bền vững về con người. Tư tưởng chỉ đạo tại Đại hội XIV của Đảng đã vạch rõ: Việt Nam phải tăng tốc, nhưng là phát triển nhanh và bền vững. Đây chính là hai đường ray để con tàu Việt Nam đưa hơn 100 triệu dân tới tương lai, đất nước giàu mạnh, phát triển bền vững, người dân hạnh phúc, dân tộc trường tồn.
Mật độ lao động nghiên cứu phát triển: Nút thắt quyết định thu nhập cao GDP/đầu người của Việt Nam năm 2025 là 5.026 USD
Làm sao để tăng năng suất lao động và đẩy GDP đầu người vượt bẫy thu nhập trung bình hiện nay là từ 1.136 USD đến 13.935 USD? Câu trả lời nằm ở quy mô lực lượng lao động nghiên cứu và phát triển (R&D) - những lao động chuyên nghiệp nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng tri thức mới, công nghệ mới, phương pháp mới như toán học, vật lý, hóa học, y học; tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, siêu máy tính.
Số liệu thống kê toàn cầu năm 2024/2025 phơi bày một quy luật kinh tế sòng phẳng:
1. Gia tăng mật độ nghiên cứu phát triển (số lao động nghiên cứu phát triển/1000 lao động) là con đường bắt buộc đầu tiên để tiến đến GDP trên đầu người cao hơn. Thống kê tương quan giữa GDP/người và mật độ lao động nghiên cứu phát triển (NCPT) của 18 nước gồm: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Slovakia, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Canada, Ba Lan, Singapore, Hungary, Anh, Úc, Pháp, Hàn Quốc, Thụy Sỹ và Na Uy năm 2024/2025 cho phương trình và hàm hồi quy tuyến tính sau đây: GDP/ người (USD) = 4.712,36 x mật độ lao động NCPT - 4.210 (1), với r = 0,7256 và R2 = 52,65%.
Tức là trong khi GDP/người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Mật độ lao động NCPT, đầu tư cho NCPT của đất nước (tính bằng tỉ lệ % GDP), hiệu quả của thị trường, tài chính, hỗ trợ đầu tư mạo hiểm và khởi nghiệp, bảo hộ sở hữu trí tuệ... của nhà nước về đổi mới, sáng tạo, văn hóa đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp, tổng đầu tư xã hội và dân số thì mật độ lao động NCPT quyết định gần 53% (52,65%) mức GDP/người của đất nước, theo phương trình (1).
Phương trình (1) nói lên xu hướng bình quân của 18 nước như sau: Mật độ lao động NCPT tăng thêm 1 người, ví dụ từ 13 người lên 14 người, thì GDP/người sẽ tăng thêm 4.712,36 USD. Thống kê 18 nước cho thấy tất cả các nước có GDP/người từ 30.000 USD trở lên tới 126.000 USD đều có mật độ lao động NCPT từ 9 trở lên tới 21. Không có nước nào có mật độ lao động NCPT nhỏ hơn 9 lại có GDP/người từ loại trên là 30.000 USD.
2. Việt Nam có mật độ lao động NCPT thấp nhất trong 18 nước thì chỉ có GDP/người thấp nhất năm 2024, bằng 54,1%.
Bảng: Lao động NCPT, mật độ lao động NCPT và GDP/người của 7 quốc gia.

3. Bên cạnh mật độ NCPT thì đầu tư cho NCPT đất nước (tính bằng % GDP) có tác động lớn thứ 2 (sau mật độ lao động NCPT) đến GDP/ người của đất nước. Kết quả hồi quy tương quan giữa GDP/người và mật độ lao động NCPT, đầu tư cho NCPT của một nước cho thấy 2 yếu tố này quyết định từ 80 đến 99% GDP/ người của đất nước. Hiện nay các nước thu nhập cao đều dành đầu tư từ 3% GDP cho NCPT, cao nhất là Hàn Quốc với 4,97% GDP. Còn Thái Lan chi chỉ 0,95% GDP, Việt Nam chi chỉ 0,5% GDP. Trong số 18 nước, Thái Lan và Việt Nam là 2 nước có mật độ lao động NCPT thấp nhất (3,43 Thái Lan, 1,5 ở Việt Nam), có tỉ lệ chi cho NCPT thấp nhất. Đây cũng là 2 nước có GDP/người thấp nhất (Thái Lan là 7.500 USD, Việt Nam là 4.500 USD năm 2024).
4. Hiện tại, mật độ lao động NCPT của Việt Nam (1,5 người/1.000 lao động) đang ở mức thấp nhất trong 18 nước. Mật độ quá thấp này cũng là nguyên nhân cốt lõi khiến ngân sách dành cho khoa học công nghệ ở nhiều địa phương và cả nước không thể giải ngân hết trong những năm qua. Chúng ta có tiền nhưng thiếu đội ngũ chuyên nghiệp có đủ quy mô và năng lực để hấp thụ và cụ thể hóa nguồn vốn đó thành kiến thức mới, công nghệ mới, sản phẩm mới, và tăng năng suất lao động xã hội.
Hiện nay, chúng ta có 75.665 lao động NCPT trong tổng số 51,5 triệu lao động, mật độ lao động NCPT là 1,5; GDP/người là 4.500 USD/người (2024). Nếu năm 2045, Việt Nam là một nước có thu nhập cao như Trung Quốc năm 2025 thì từ các thống kê ở đây cho thấy số lao động NCPT phải tăng lên là 294.000, mật độ lao động NCPT là 5,83.
Nếu chúng ta muốn năm 2065 GDP/ người đạt 30.000 USD như Slovakia năm 2025 thì mật động lao động NCPT phải đạt 8, tổng số lao động NCPT sẽ là 454.000. Nếu năm 2085 Việt Nam có 706.000 lao động NCPT; mật độ lao động là 9,3 thì GDP/người sẽ là 60.000 USD, như nước Anh hiện nay. Còn với 1 triệu lao động NCPT vào năm 2100, Việt Nam sẽ có mật độ lao động NCPT là 20 và GDP/người là 100.000USD như Na Uy.

Kiến nghị đột phá để Việt Nam cất cánh (2026 - 2045 - 2100)
Để xoay chuyển cục diện, biến nguy cơ thiếu lao động từ sau năm 2035 thành thời cơ, biến điểm nghẽn mô mật độ lao động NCPT quá thấp thành điểm mạnh có nguồn nhân lực NCPT dồi dào. Mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới cần tập trung giải quyết 4 vấn đề cốt lõi sau:
Đưa mức sinh trở lại mức thay thế trước năm 2035: Mức sinh của Việt Nam đã nằm dưới mức thay thế suốt 20 năm qua (từ năm 2006). Dự báo đến năm 2035, lực lượng lao động của chúng ta sẽ đạt đỉnh (66,6 triệu người) rồi quay đầu giảm mạnh, chỉ còn 44,9 triệu người vào năm 2100. Nếu duy trì mức sinh thấp này, đến năm 2400 dân số Việt Nam sẽ chỉ còn vỏn vẹn khoảng 11 triệu người.
Để giải quyết, Luật Dân số và các chương trình quốc gia cần những chính sách bám sát thực tế hơn. Nền tảng là phải quy định mức lương tối thiểu phải là lương đủ sống - đảm bảo một người đi làm phải nuôi được bản thân và một con ăn học đàng hoàng. Nếu thu nhập của hai vợ chồng không đủ nuôi 2 con tử tế đến 18 tuổi, họ sẽ không sinh con. Mức sinh hiện tại ở Việt Nam theo thống kê là 2,1 con/gia đình. Mục tiêu tối thượng là chậm nhất năm 2035 phải đưa mức sinh về lại mốc 2,1 và giữ vững đến năm 2100.
Thực hiện lộ trình nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi: Giai đoạn 2026 - 2035 là khoảng thời gian "vàng" kéo dài 10 năm để chúng ta điều chỉnh nâng dần tuổi hưu bình quân của cả nam và nữ lên 65 tuổi. Việc này sẽ bổ sung ngay khoảng 5 triệu lao động cho giai đoạn sau năm 2035, tạo bệ đỡ vững chắc để duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm.
Đột phá, gia tăng nhân lực NCP (tăng gấp gần 4 lần vào năm 2045): Việt Nam phải xây dựng và triển khai ngay trong năm 2026 Đề án gia tăng lực lượng lao động nghiên cứu phát triển. Mục tiêu cụ thể:
Năm 2045: Tăng từ 75.665 người lên 294.000 người, gấp 3,9 lần hiện nay (mật độ đạt 5,83), đưa Việt Nam chạm mốc nước thu nhập cao, tương đương Trung Quốc năm 2025.
Tầm nhìn 2100: Phát triển đội ngũ lao động NCPT lên đến 1 triệu người (mật độ đạt 20), đưa thu nhập đầu người chạm ngưỡng 100.000 USD.
[Hiện tại 2025] 75.665 lao động NCPT (mật độ: 1,5)
▼ (Gấp 3,9 lần)
[Năm 2045] 294.000 lao động NCPT (mật độ: 5,83) -> Nước thu nhập cao
▼
[Năm 2100] 1.000.000 lao động NCPT (Mật độ: 20) -> Thu nhập đầu người 100.000 USD
Tăng tổng chi xã hội cho nghiên cứu và phát triển: Bên cạnh việc tăng người, cần tăng cả đầu tư cho NCTP. Việt Nam cần ban hành đề án tăng tỷ lệ chi cho NCPT tính theo phần trăm GDP ngay từ năm 2027, đặc biệt cần khuyến khích các doanh nghiệp tăng đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ và sản phẩm mới tại doanh nghiệp hoặc địa phương.
Lời kết
Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XXI không nằm ở các biến động ngắn hạn, mà nằm ở sự phát triển không bền vững về con người, kéo theo sự suy tàn của kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt lực lượng lao động chất lượng cao có quy mô đủ lớn làm nghiên cứu và phát triển chính là điểm nghẽn lớn nhất giữ chân 100 triệu người dân chúng ta trong bẫy thu nhập trung bình.
Nhận diện đúng và giải quyết quyết liệt bài toán dân số, đầu tư đột phá để hình thành đội quân chủ lực 300.000 người làm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào 2045 và 1 triệu người vào năm 2100. Đây chính là động lực kép dựa trên sức mạnh con người của Việt Nam, sức mạnh văn hóa dân tộc 3.000 năm và sức mạnh chính trị của thời đại Hồ Chí Minh 100 năm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, đưa dân tộc vào kỷ nguyên mới: Phát triển nhanh và bền vững, người dân hạnh phúc, dân tộc trường tồn.