Dệt may TP.HCM: Tiết kiệm năng lượng là bước đầu của chuyển đổi công nghệ
Ngành dệt may TP.HCM đang đứng trước yêu cầu kép: nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng xu hướng phát triển bền vững.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Tuân đến từ Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo TP.HCM chia sẻ tại Tọa đàm "Dệt may hướng tới tương lai" chiều 14/10, doanh nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng những khoản đầu tư lớn, mà có thể giảm lãng phí năng lượng từ chính quy trình vận hành, bảo trì thiết bị và từng bước ứng dụng công nghệ số vào quản lí nhà máy.

“Tối ưu hóa quy trình” trước khi nghĩ đến chuyện thay máy móc
Trong lúc ngành dệt may chịu áp lực ngày càng lớn về chi phí sản xuất, yêu cầu xanh hóa chuỗi cung ứng và mục tiêu phát thải ròng bằng 0, việc ứng dụng công nghệ không còn đơn thuần là câu chuyện tự động hóa hay nâng cấp dây chuyền. Một trong những hướng đi thiết thực nhất đối với doanh nghiệp hiện nay là sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Tuân nhận định dệt may là một trong những ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, bên cạnh sắt thép và xi măng. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực còn nhiều dư địa để cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng, qua đó giảm chi phí và hướng đến phát triển bền vững.
Theo số liệu khảo sát của Bộ Công Thương được ông Tuân dẫn lại, tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong ngành dệt may có thể đạt 20-30%. Đây là tỉ lệ đáng chú ý trong hoàn cảnh năng lượng là một cấu phần chi phí quan trọng của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại các nhà máy vận hành nhiều động cơ điện, hệ thống hút bụi, máy nén khí, điều hòa không khí và thiết bị gia nhiệt.
Dù vậy, vị chuyên gia cho rằng doanh nghiệp không nên mặc định muốn tiết kiệm năng lượng thì phải đầu tư máy móc mới hoặc thay đổi toàn bộ công nghệ sản xuất. Trước khi tính đến những khoản đầu tư lớn, nhà máy cần rà soát cách vận hành, quy trình bảo trì, bảo dưỡng và mức độ khai thác hiệu quả của thiết bị hiện có.
“Chúng ta nên sử dụng nguồn lực đang có hiện nay, tối ưu hóa các quy trình, chúng ta sử dụng các quy trình sao cho hiệu quả nhất”, ông Tuân nhấn mạnh.
Theo ông, việc tối ưu hóa vận hành cần được xem xét trước khi doanh nghiệp quyết định thay đổi máy móc, thiết bị hoặc quy trình công nghệ, bởi những phương án này thường đòi hỏi chi phí đầu tư cao. Một quy trình bảo trì được thực hiện nghiêm túc, một thiết bị được vận hành đúng chế độ hay một hệ thống được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế cũng có thể giúp giảm lãng phí.
Ông Tuân cho biết nhiều doanh nghiệp đã có quy trình, danh mục kiểm tra và hồ sơ bảo trì, bảo dưỡng đầy đủ, nhưng lại thiếu bước đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện. “Chúng ta có quy trình bảo trì bảo dưỡng, chúng ta có checklist bảo trì bảo dưỡng, chúng ta có hồ sơ bảo trì bảo dưỡng đàng hoàng hết, nhưng mà chúng ta không có một cái thông số nào chúng ta đánh giá lại cái hiệu quả sau khi bảo trì bảo dưỡng chúng ta như thế nào”, ông nêu thực trạng.
Điều này cho thấy khoảng cách giữa việc xây dựng quy trình trên giấy và thực hiện trong thực tế vẫn là vấn đề đáng lưu ý. Với doanh nghiệp dệt may có nguồn lực đầu tư hạn chế, việc cải thiện kỷ luật vận hành, đo lường kết quả và tận dụng thiết bị hiện hữu có thể là bước khởi đầu phù hợp trước khi triển khai những dự án chuyển đổi công nghệ quy mô lớn.
“Không còn chạy bằng cơm”: Đưa IoT, SCADA, MES vào nhà máy dệt may
Nếu tối ưu hóa thiết bị là bước đầu, số hóa quản lí năng lượng là hướng đi giúp doanh nghiệp tiến xa hơn. Theo ông Tuân, một trong những hạn chế của nhiều nhà máy hiện nay là thiếu dữ liệu đủ tin cậy để đánh giá mức tiêu thụ năng lượng, hiệu suất thiết bị và hiệu quả của các biện pháp cải tiến.
Khi không có dữ liệu theo dõi liên tục, doanh nghiệp khó xác định chính xác thiết bị nào tiêu hao nhiều điện nhất, công đoạn nào thường xuyên vận hành không tải hoặc thời điểm nào cần điều chỉnh hoạt động để tránh lãng phí. Việc đánh giá hiệu quả cũng dễ phụ thuộc vào kinh nghiệm của người vận hành thay vì những chỉ số có thể kiểm chứng.
Một giải pháp mà ông Tuân nhấn mạnh trong xu hướng hiện nay là "Chúng ta nên đưa vào điều khiển tự động, chứ chúng ta không còn chạy bằng cơm như hiện nay nữa”.
Từ thực tế đó, ông đề xuất doanh nghiệp từng bước ứng dụng Internet vạn vật (IoT), hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu (SCADA), cùng hệ thống điều hành sản xuất (MES). Những công nghệ này có thể hỗ trợ thu thập dữ liệu từ thiết bị, theo dõi trạng thái vận hành và cung cấp cơ sở để đánh giá hiệu suất sản xuất theo thời gian thực hoặc theo từng kì báo cáo.
Thay vì chỉ dựa vào hóa đơn điện cuối tháng, doanh nghiệp có thể tiến tới giám sát mức tiêu thụ tại từng khu vực hoặc hệ thống thiết bị. Dữ liệu vận hành cũng hỗ trợ phát hiện những dấu hiệu bất thường, dự báo nguy cơ sự cố và lập kế hoạch bảo trì dựa trên tình trạng thực tế, thay vì chỉ thực hiện theo lịch cố định.
Theo ông Tuân, các giải pháp điều khiển và quản lí năng lượng bằng công nghệ số có thể mang lại mức cải thiện đáng kể về hiệu suất. Ông đề cập mức cải thiện tiềm năng khoảng 15-30% tùy giải pháp và điều kiện triển khai. Đây là mức kì vọng cần được kiểm chứng bằng dữ liệu khảo sát cụ thể tại từng nhà máy, không nên hiểu là kết quả mặc nhiên đạt được với mọi doanh nghiệp.
Cùng với hiệu quả kinh tế, việc số hóa dữ liệu năng lượng còn gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Khi các thị trường xuất khẩu tăng cường chú ý đến phát thải trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp dệt may sẽ cần năng lực đo lường và quản lí tốt hơn lượng năng lượng tiêu thụ cũng như dấu chân carbon trong hoạt động sản xuất.
Ông Tuân cũng đề cập mối liên hệ giữa quản lí năng lượng với tiêu chuẩn ISO 50001, một khuôn khổ quản lí giúp tổ chức thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá và cải tiến hiệu quả sử dụng năng lượng. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp xác định rõ mục tiêu, có nhân sự phụ trách, duy trì dữ liệu và sử dụng kết quả đo lường để điều chỉnh hoạt động.
Với các doanh nghiệp dệt may tại TP.HCM, bài toán đặt ra không đơn giản là có nên ứng dụng công nghệ hay không, mà là lựa chọn công nghệ nào, triển khai ở khâu nào và theo lộ trình ra sao. Những nhà máy có nguồn lực hạn chế có thể bắt đầu bằng kiểm toán năng lượng, lắp thiết bị đo tại các hệ thống tiêu thụ lớn và chuẩn hóa quy trình vận hành. Khi đã có dữ liệu và xác định được hiệu quả đầu tư, doanh nghiệp mới tiếp tục mở rộng tự động hóa hoặc tích hợp các hệ thống quản trị.
Thông điệp đáng chú ý từ phần trình bày của Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Tuân là tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp giảm hóa đơn điện, mà còn tạo nền tảng cho quá trình hiện đại hóa nhà máy. Trong lúc ngành dệt may phải đồng thời cạnh tranh về chi phí, chất lượng và yêu cầu xanh hóa, những doanh nghiệp biết khai thác tốt nguồn lực hiện có, quản lí bằng dữ liệu và đầu tư công nghệ đúng trọng tâm sẽ có thêm dư địa để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chuyển đổi xanh, vì vậy, không nhất thiết bắt đầu bằng một dự án hàng chục tỉ đồng. Đôi khi, điểm khởi đầu chỉ là đóng một cửa hút bụi không còn sử dụng, xử lí một điểm rò rỉ khí nén hoặc đo chính xác lượng điện mà một thiết bị đang tiêu thụ. Điều quan trọng là biến những cải tiến riêng lẻ thành một hệ thống quản trị có thể đo lường, duy trì và nhân rộng trong toàn nhà máy.

