Đừng chỉ đưa pháp luật vào cuộc sống, hãy đưa cuộc sống vào pháp luật
Trung ương thống nhất ban hành Kết luận về sơ kết Nghị quyết số 18 và các quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai, các luật có liên quan.
Kết luận tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí; không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập theo pháp luật qua các thời kỳ.
Việc sửa luật phải đồng bộ, kịp thời, khơi thông nguồn lực nhưng không tư nhân hóa đất đai, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; Nhà nước giữ vai trò điều tiết, kiểm soát, quyết định giá đất và bảo đảm sinh kế cho người có đất bị thu hồi.
Theo Thạc sĩ Lưu Đức Quang – Giảng viên Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM ), muốn hoàn thiện chính sách đất đai phải bắt đầu từ nền tảng Hiến pháp và nguyên lí pháp quyền. Bởi một hệ thống pháp luật chỉ thực sự có sức sống khi bảo đảm công bằng, minh bạch và phản ánh đúng hơi thở của cuộc sống.
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc phỏng vấn Thạc sĩ Lưu Đức Quang về vấn đề này.

Khung Hiến pháp đặt ra giới hạn quyền lực trong quản lí đất đai
- Thưa ông, nếu nhìn từ góc độ Hiến pháp, chính sách đất đai của Việt Nam hiện nay được đặt trên nền tảng như thế nào? Một trong những nội dung luôn nhận được sự quan tâm là quyền thu hồi đất của Nhà nước, vậy hiến pháp giới hạn quyền này ra sao?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Nếu tiếp cận từ Hiến pháp, có thể khẳng định chính sách đất đai là chính sách hiến định. Những nguyên tắc nền tảng về quản lí, sử dụng đất đai được quy định trực tiếp trong Hiến pháp năm 2013. Đó là cơ sở để xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật về đất đai.
Điều 54 Hiến pháp xác định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước và được Nhà nước quản lí theo pháp luật. Quy định này khẳng định vai trò đặc biệt của đất đai đối với sự phát triển quốc gia và đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lí, sử dụng nguồn tài nguyên này.

Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng ghi nhận quyền hợp pháp của người dân đối với đất đai thông qua việc được giao đất, cho thuê đất hoặc được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa, cùng với quyền quản lí thống nhất của Nhà nước là sự bảo đảm đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Về giới hạn quyền này, Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp quy định rất chặt chẽ. Nhà nước chỉ được thu hồi đất trong những trường hợp thật sự cần thiết. Việc thu hồi phải do luật quy định và chỉ nhằm phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Điều đáng lưu ý, Hiến pháp không trao quyền thu hồi đất theo nghĩa tuyệt đối. Ngược lại, quyền này được đặt trong những giới hạn rất nghiêm ngặt. Đây cũng là một trong số ít trường hợp Hiến pháp quy định khá cụ thể về việc hạn chế một quyền hiến định.
Không chỉ dừng ở đó, Hiến pháp còn yêu cầu việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và người có đất bị thu hồi phải được bồi thường theo quy định của pháp luật. Điều đó cho thấy quyền lực của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai luôn phải được đặt dưới sự kiểm soát của Hiến pháp và pháp luật.
Ngoài quy định về thu hồi đất, Hiến pháp cũng xác định việc trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện trong những trường hợp do luật định để phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai. Tất cả những quy định đó tạo thành nền tảng hiến định cho chính sách đất đai của Việt Nam.
- Hiện có nhiều ý kiến cho rằng không nên áp dụng hồi tố đối với các vấn đề đất đai đã được xác lập trước đây. Quan điểm của ông thế nào?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Nguyên tắc không hồi tố là một nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật. Đặc biệt, khi việc hồi tố có thể làm phát sinh những bất lợi đối với quyền của người dân. Tuy nhiên, không nên hiểu nguyên tắc này một cách tuyệt đối và máy móc.

Điều cần đặt ra là những quyền sử dụng đất đã được xác lập trong quá khứ tuy hợp pháp nhưng có thực sự hợp lí hay không.
Thực tiễn cho thấy không ít quy định từng được ban hành đúng pháp luật nhưng sau đó chính Nhà nước phải sửa đổi vì không còn phù hợp với yêu cầu của cuộc sống. Nếu một quy định hợp pháp nhưng bất hợp lí thì khi sửa luật cần suy nghĩ đến quyền lợi của những người đã chịu tác động từ quy định đó.
Nếu chỉ khẳng định không xem xét lại trong mọi trường hợp thì vô hình trung sẽ làm mất đi cơ hội khắc phục những bất cập của chính sách cũ. Vì vậy, nguyên tắc không hồi tố cần được vận dụng trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, bảo đảm hài hòa giữa sự ổn định của pháp luật và yêu cầu công bằng trong thực tiễn.
Chính những quy định từng hợp pháp nhưng chưa hợp lí là một trong những nguyên nhân khiến Luật Đất đai phải sửa đổi nhiều lần và cũng là lý do phát sinh không ít vụ khiếu kiện kéo dài trong nhiều năm.
Công bằng là đích đến cuối cùng của pháp luật
- Có ý kiến cho rằng nhiều quy định pháp luật được ban hành đúng quy trình nhưng khi đi vào thực tiễn lại phát sinh bất cập. Theo ông, đâu là nguyên nhân cốt lõi?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Muốn xây dựng một hệ thống pháp luật tốt thì trước hết phải dựa trên nguyên lí pháp quyền. Nhà nước pháp quyền không chỉ đòi hỏi pháp luật được ban hành đúng trình tự, thủ tục mà còn phải hướng đến những giá trị cốt lõi là tiến bộ, nhân văn và công bằng.

Theo tôi, có ba yêu cầu nền tảng. Thứ nhất là công khai. Thứ hai là minh bạch. Thứ ba là tính dễ đoán định của pháp luật. Đây không phải những khẩu hiệu mang tính hình thức mà là điều kiện để người dân có thể tin tưởng và thực hiện pháp luật. Điều cần lưu ý là công khai và minh bạch không hoàn toàn giống nhau.
Có thể một quy định được công bố rất công khai, nhưng chưa chắc đã minh bạch. Chẳng hạn, nếu pháp luật quy định mọi quyền sử dụng đất đã được xác lập hợp pháp thì không xem xét lại, đó là một quy định công khai. Tuy nhiên, nếu chính quy định ấy làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của một bộ phận người dân thì cần tiếp tục xem xét dưới góc độ minh bạch và công bằng.
Nói cách khác, công khai mới chỉ là điều kiện cần. Minh bạch mới là điều kiện đủ để pháp luật tạo được niềm tin trong xã hội. Pháp luật, suy cho cùng, hướng đến sự công bằng. Đó là giá trị cốt lõi, cũng là mục tiêu cao nhất của mọi nền pháp luật.
Nếu pháp luật không tạo lập được sự công bằng thì rất khó thu phục được nhân tâm. Người dân có thể chấp hành vì nghĩa vụ, nhưng sẽ không thể thực sự đồng thuận nếu họ cảm thấy quyền và lợi ích chính đáng của mình chưa được bảo đảm.
Thực tiễn cho thấy, có những dự án giải phóng mặt bằng diễn ra rất nhanh vì người dân đồng thuận. Họ đồng thuận không phải vì bị buộc phải chấp hành, mà vì họ cảm thấy chính sách hợp lí, quyền lợi được bảo đảm và quá trình thực hiện minh bạch.
Ngược lại, cũng có những dự án kéo dài nhiều năm, phát sinh khiếu nại, khiếu kiện phức tạp. Nguyên nhân không chỉ nằm ở khâu tổ chức thực hiện mà còn bắt nguồn từ chính sách. Khi một quy định hợp pháp nhưng chưa hợp lí thì rất khó tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
- Ông từng nói không nên chỉ đặt vấn đề "đưa pháp luật vào cuộc sống". Vì sao?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Tôi cho rằng cần nhìn theo chiều ngược lại. Đừng chỉ nói đưa pháp luật vào cuộc sống, mà hãy đưa cuộc sống vào pháp luật.

Pháp luật phải được hình thành từ thực tiễn đời sống, phản ánh đúng những vấn đề mà xã hội đang đặt ra và bảo đảm công bằng cho người dân. Khi pháp luật mang hơi thở cuộc sống thì tự thân nó sẽ được xã hội chấp nhận.
Nếu pháp luật thực sự xuất phát từ cuộc sống thì sẽ không cần quá nhiều biện pháp để đưa pháp luật vào cuộc sống nữa. Người dân sẽ tự giác thực hiện vì họ nhìn thấy quyền lợi của mình được tôn trọng và bảo vệ.
Theo tôi, đây mới là cách tiếp cận bền vững trong xây dựng và hoàn thiện thể chế. Pháp luật phải phản ánh cuộc sống. Pháp luật phải bảo đảm công bằng. Pháp luật phải công khai. Pháp luật phải minh bạch. Quan trọng hơn cả, pháp luật phải để không ai bị bỏ lại phía sau.
Mọi nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, từ công khai, minh bạch đến tính dễ đoán định, cuối cùng đều hướng tới một giá trị chung là công bằng.
Khi pháp luật tạo ra công bằng thì sẽ tạo được niềm tin. Khi có niềm tin thì sẽ có sự đồng thuận. Và khi có sự đồng thuận, pháp luật mới thực sự đi vào cuộc sống một cách tự nhiên, bền vững.
Đất đai không chỉ là tài sản mà còn là văn hóa và cội nguồn
- Từ góc độ nghiên cứu Hiến pháp, theo ông, việc sửa đổi chính sách đất đai thời gian tới cần đặt trọng tâm vào những vấn đề nào?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Theo tôi, cải cách là yêu cầu tất yếu, nhưng mọi sự thay đổi đều phải có lộ trình. Chính sách đất đai tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của hàng triệu người dân, vì vậy không thể tạo ra những thay đổi quá đột ngột khiến xã hội bị xáo trộn hoặc người dân cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau.

Cùng với lộ trình phù hợp, cơ chế xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tiệm cận thực tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư. Chỉ khi người dân cảm thấy quyền lợi chính đáng của mình được tôn trọng thì chính sách mới nhận được sự đồng thuận và đi vào cuộc sống.
Nhìn từ những vụ việc như Thủ Thiêm (TP.HCM) và những vụ việc kéo dài nhiều năm cho thấy một thực tế: Nếu chính sách hoặc quá trình thực thi không tạo dựng được niềm tin thì hệ quả sẽ rất lớn. Không chỉ phát sinh khiếu nại, khiếu kiện, mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với chính sách.
Đó là lí do mọi sửa đổi của pháp luật đất đai phải lấy công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân làm điểm xuất phát, thay vì chỉ xử lí hậu quả khi tranh chấp đã phát sinh.
-Có ý kiến cho rằng đôi khi chỉ một quyết định sai hoặc một chữ kí sai cũng có thể để lại hệ quả lâu dài đối với chính sách. Ông nhìn nhận như thế nào?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Trong thực tiễn có những trường hợp lợi ích đạt được từ hành vi vi phạm lớn hơn nhiều so với hậu quả pháp lí mà người vi phạm phải gánh chịu. Khi đó rất dễ dẫn đến những quyết định làm méo mó chính sách, thậm chí ảnh hưởng đến cả một thiết chế.

Ở chiều ngược lại, một ý kiến phản biện khoa học có chất lượng, một kiến nghị xác đáng cũng có thể góp phần điều chỉnh chính sách theo hướng đúng đắn hơn. Vì vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật, tiếng nói của giới khoa học và các chuyên gia cần được lắng nghe nhiều hơn.
Cuối cùng, mọi vấn đề đều phải trở về với Hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật gốc, là nền tảng của Nhà nước pháp quyền. Mọi chủ trương, chính sách và quy định pháp luật đều phải được xây dựng trên nền tảng đó.
Nếu đã lựa chọn xây dựng Nhà nước pháp quyền thì toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi pháp luật cũng phải tuân thủ các nguyên lí của Nhà nước pháp quyền. Đây là yêu cầu mang tính nền tảng, không thể thay thế bằng bất cứ cách tiếp cận nào khác.
- Ngoài góc độ pháp lí, theo ông còn cần nhìn nhận đất đai từ những phương diện nào? Ông từng đề xuất nghiên cứu mô hình tòa án chuyên trách về đất đai. Vì sao ông cho rằng đây là hướng đi đáng quan tâm?
- Thạc sĩ Lưu Đức Quang: Không nên chỉ nhìn đất đai dưới góc độ pháp lí hay kinh tế. Đất đai còn gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội của người Việt Nam. Mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, truyền thống và bối cảnh phát triển khác nhau nên không thể sao chép nguyên xi mô hình của nước khác.
Đối với người Việt Nam, đất đai không đơn thuần là một loại tài sản. Đó còn là nơi gắn với gia đình, tổ tiên, cội nguồn và ký ức của nhiều thế hệ. Chính vì vậy, mọi chính sách về đất đai đều cần tính đến yếu tố văn hóa và đặc điểm xã hội của Việt Nam.
Một hệ thống pháp luật chỉ thực sự có sức sống khi vừa bảo đảm các nguyên lí pháp quyền, vừa phản ánh đúng thực tiễn của đất nước.
Về mô hình tòa án chuyên trách về đất đai, tôi đã có bài viết về vấn đề này từ năm 2024. Theo tôi, tranh chấp đất đai có nhiều đặc thù, cả về pháp lí lẫn thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu một cơ chế tài phán chuyên sâu là hướng đi cần được xem xét trong quá trình tiếp tục hoàn thiện thể chế.
Điều quan trọng nhất vẫn là xây dựng được một hệ thống pháp luật công bằng, minh bạch và ổn định. Khi pháp luật bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo được niềm tin xã hội thì đó cũng chính là lúc pháp luật phát huy đầy đủ giá trị của mình trong đời sống.



