Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu (Kỳ 2):Đỉnh cao Dubna và Giải thưởng Lenin lịch sử
Nam Phong•13/10/2026 07:57
Năm 1986, Giải thưởng Lenin – giải thưởng khoa học cao quý bậc nhất Liên Xô – đã được trao cho Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu, ghi nhận những phát minh vật lý lý thuyết kiệt xuất mang tầm vóc toàn cầu của ông.
Môi trường Dubna và những bài toán lý thuyết hóc búa
Sau khi hoàn thành xuất sắc các chương trình nghiên cứu học vị ban đầu, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu bước vào giai đoạn sáng tạo sung sức và rực rỡ nhất trong sự nghiệp tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (Liên Xô). Được mệnh danh là "thánh địa" của vật lý hạt nhân thế giới thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Dubna không chỉ là nơi hội tụ những thiết bị gia tốc hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ mà còn là nơi tập trung các bộ óc đại tài của nền vật lý thế giới.
GS Hiệu bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 25 tuổi. Ảnh tư liệu
Tại đây, ông đã làm việc và hợp tác trực tiếp với những nhà bác học lừng lẫy như Viện sĩ M. A. Markov, Viện sĩ A. N. Logunov và Viện sĩ N. N. Bogolyubov. Không đi theo những lối mòn tư duy sẵn có, ông chọn dấn thân vào những mảng đề tài hóc búa và tiên phong nhất của vật lý hiện đại thời kỳ đó: Lý thuyết trường lượng tử, vật lý hạt cơ bản ở năng lượng cực cao, lý thuyết đối xứng của các hạt sơ cấp và các tương tác yếu của hạt neutrino.
Trong bối cảnh vật lý thực nghiệm liên tục phát hiện ra hàng loạt hạt sơ cấp mới, việc xây dựng một mô hình lý thuyết toán học mạch lạc để giải thích quy luật tương tác giữa chúng là thách thức cực kỳ to lớn. Với tư duy toán học sắc bén cùng khả năng bao quát vấn đề phi thường, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu đã tiến hành xây dựng các công cụ lý thuyết giải tích nhằm mô tả tính chất của các biên độ tán sắc hạt sơ cấp.
Những nghiên cứu chuyên sâu của ông đã đặt nền móng lý thuyết quan trọng cho việc dự đoán hành vi của các hạt khi va chạm ở vùng năng lượng siêu cao. Khối lượng tính toán khổng lồ và mức độ trừu tượng hóa cao độ của các đề tài này đòi hỏi ở nhà khoa học một bản lĩnh và một nghị lực lao động phi thường.
Đánh giá về tư duy khoa học độc lập và sức làm việc miệt mài của ông, Viện sĩ N. N. Bogolyubov – Viện trưởng Viện Dubna – đã đưa ra nhận xét rất trân trọng:
Viện sĩ N. N. Bogolyubov. Ảnh Wikipedia
“
Các bản nhận xét của giới khoa học quốc tế đều đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là một nhà bác học lớn, đầy tài năng, đạt trình độ chuyên môn rất cao... Các công trình của ông mang ý nghĩa nền tảng sâu sắc đối với vật lý lý thuyết đương đại.
Viện sĩ N. N. Bogolyubov
Những phát minh mang tính thời đại và sự thừa nhận toàn cầu
Một trong những đóng góp mang tính đột phá và rực rỡ nhất của Giáo sư Hiệu tại Viện Dubna chính là việc nghiên cứu quy luật tiệm cận của các quá trình tương tác mạnh ở năng lượng cực cao (thường được gọi là các quá trình inclusive). Khi các hạt sơ cấp va chạm ở năng lượng rất lớn, hàng loạt hạt mới được sinh ra, tạo nên một bức tranh tương tác cực kỳ phức tạp. Ông cùng các đồng nghiệp đã tìm ra quy luật bất biến kích thước của các quá trình sinh hạt này.
Năm 1968, Nguyễn Văn Hiệu được phong học hàm Giáo sư. Ông cũng là vị giáo sư trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa học Việt Nam. Ảnh tư liệu
Ý tưởng lý thuyết mang tính mở đường này đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong vật lý năng lượng cao. Điểm đặc biệt là cùng trong khoảng thời gian đó, nhà vật lý học thiên tài người Mỹ Richard Feynman (người từng đoạt giải Nobel Vật lý) cũng độc lập đề xuất mô hình lý thuyết tương tự. Sự trùng hợp mang tính lịch sử giữa hai bộ óc lớn ở hai bờ chiến tuyến đã minh chứng đanh thép cho tầm vóc tư duy đi trước thời đại của Giáo sư Hiệu.
Năm 1967, Nhà xuất bản Nguyên tử Moscow đã cho ấn hành cuốn sách chuyên khảo "Các bài giảng lý thuyết đối xứng unita" do ông biên soạn. Cuốn sách tổng hợp hệ thống các bài giảng và công trình nghiên cứu xuất sắc của ông, ngay lập tức trở thành tài liệu tham khảo gối đầu giường của hàng ngàn sinh viên, nghiên cứu sinh và chuyên gia vật lý lý thuyết trên khắp Liên Xô và các nước Đông Âu.
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu àm trưởng đoàn cán bộ Viện Khoa học Việt Nam sang thăm và làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Ông giới thiệu với chủ tịch Guri Ivanovith Martchur về Viện Khoa học Việt Nam và cùng đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: VAST
Sức làm việc phi thường cùng phẩm chất nhân cách khiêm tốn của ông đã chinh phục hoàn toàn những bộ óc khắt khe nhất của viện nghiên cứu đỉnh cao này. Trực tiếp chứng kiến hành trình chinh phục đỉnh cao khoa học của ông, Viện sĩ M. A. Markov đã xúc động chia sẻ:
“
Đồng chí và tôi đang tiếp xúc với một con người xuất chúng. Đôi khi người ta thực sự gặp may trong công việc nhờ tìm thấy một ý tưởng thiên tài dẫn đến những kết quả quan trọng, như tìm thấy một mỏ vàng. Nguyễn Văn Hiệu đi theo một con đường khác... Viện Dubna tạo cho anh một môi trường thuận lợi. Mọi điều còn lại phụ thuộc vào lao động và phẩm chất cá nhân. Nguyễn Văn Hiệu là một nhà bác học thật lớn.
- Viện sĩ M. A. Markov
Đỉnh cao Giải thưởng Lenin và vị thế Viện sĩ quốc tế
Sự ghi nhận danh giá nhất đối với sự nghiệp nghiên cứu thuần túy của Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu trên trường quốc tế đến vào năm 1986. Công trình nghiên cứu về "Định luật bất biến kích thước của quá trình sinh hạt" do ông cùng các cộng sự quốc tế thực hiện đã vinh dự được Nhà nước Liên Xô trao tặng Giải thưởng Lenin về Khoa học và Kỹ thuật.
Lễ trao bằng Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nước CHDC Đức cho GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu (người ngoài cùng bên phải). Ảnh: VAST
Giải thưởng Lenin là phần thưởng cao quý nhất của Liên Xô, vốn chỉ dành để tôn vinh những phát minh mang tính chất cách mạng, làm thay đổi nền tảng nhận thức khoa học của nhân loại. Sự kiện một nhà khoa học người Việt Nam đứng chung danh xưng vinh quang ấy cùng các bậc thầy vật lý thế giới đã tạo nên một niềm tự hào to lớn cho trí tuệ Việt Nam. Cho đến nay, ông vẫn là nhà khoa học duy nhất của Việt Nam nhận được đỉnh cao danh giá này.
Trước đó, vào năm 1982, nhờ uy tín học thuật kiệt xuất và chuỗi công trình công bố có sức ảnh hưởng sâu rộng, ông đã vinh dự được bầu làm Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Nga). Đây là một danh hiệu cực kỳ hiếm hoi và cao quý mà Liên Xô dành riêng cho các nhà khoa học quốc tế có đóng góp đặc biệt xuất sắc.
Chưa dừng lại ở đó, danh tiếng khoa học của Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu tiếp tục vươn xa trên phạm vi toàn cầu khi ông lần lượt được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS) và Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học New York (Mỹ). Ông thường xuyên được mời tham dự, chủ trì các phân khúc báo cáo tại các hội nghị vật lý năng lượng cao quốc tế lớn nhất tại Châu Âu và Bắc Mỹ.
Giữ vững ngọn lửa cống hiến giữa lòng Tổ quốc gian khó
Năm 1969, khi sự nghiệp nghiên cứu tại Liên Xô đang ở trên đỉnh cao trải rộng với điều kiện làm việc lý tưởng và đãi ngộ hậu thuẫn tuyệt vời, ông đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt: Trở về Việt Nam theo lời mời gọi của Chính phủ để gánh vác sự nghiệp xây dựng nền khoa học nước nhà.
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu trong buổi làm việc với Tổng bí thư Đỗ Mười với Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia. Ảnh: VAST
Trở về quê hương giữa thời điểm chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, ông phải làm việc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Không còn những máy gia tốc hiện đại, không có hệ thống máy tính tính toán siêu tốc hay thư viện tài liệu cập nhật hàng ngày như ở Dubna, ông bắt tay vào thành lập Viện Vật lý và đảm nhận trọng trách Viện trưởng đầu tiên.
Mặc dù bận rộn ngày đêm với công tác tổ chức, xây dựng bộ máy và quản lý khoa học cho một đất nước đang chiến tranh, ông chưa bao giờ từ bỏ niềm đam mê vật lý lý thuyết. Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu miệt mài nơi sơ tán, ông vẫn dành thời gian giải các phương trình toán - lý phức tạp để duy trì nhịp đập nghiên cứu.
Tại Hội nghị Vật lý Quốc tế tổ chức ở Kiev năm 1970, báo cáo khoa học của ông đã làm kinh ngạc toàn thể hội nghị bởi tính thời sự và chiều sâu tri thức, dù ông đang sống và làm việc tại một đất nước đang bị bom đạn tàn phá. Trực tiếp chứng kiến tài năng kiệt xuất của ông và mong muốn giữ ông lại ở môi trường đỉnh cao để chinh phục thêm những đỉnh cao mới, Viện sĩ Bogolyubov đã đưa ra lời khuyên đầy trăn trở:
“
"Tớ nghĩ rằng, cậu sẽ có được một Giải thưởng Lenin. Cậu phải quay lại Liên Xô ngay thêm vài năm nữa để tiếp tục nghiên cứu."
Viện sĩ N. N. Bogolyubov
Tuy nhiên, tình yêu sâu nặng với quê hương và trách nhiệm đối với sự nghiệp khoa học của dân tộc đã giữ chân Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu ở lại. Ông chấp nhận gạt sang một bên những cơ hội cá nhân rực rỡ ở xứ người để trực tiếp đào tạo hàng trăm cán bộ khoa học trẻ, đặt nền móng cho các ngành nghiên cứu vật lý lý thuyết, vật lý chất rắn và quang học tại Việt Nam.
Di sản hơn 200 công trình và tầm ảnh hưởng trường tồn
Trong suốt cuộc đời hoạt động khoa học miệt mài, ông là tác giả và đồng tác giả của hơn 200 công trình nghiên cứu đỉnh cao được công bố trên các tạp chí vật lý uy tín nhất thế giới. Tầm vóc nghiên cứu của ông không chỉ giới hạn ở vật lý hạt nhân hay lý thuyết trường lượng tử, mà về sau, khi đất nước bước vào giai đoạn hòa bình và đổi mới, ông đã chủ động mở rộng hướng nghiên cứu sang các lĩnh vực có tính ứng dụng thực tiễn cao như lý thuyết bán dẫn, quang lượng tử, vật liệu mới và hiện tượng siêu dẫn nhiệt độ cao.
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu tại buổi làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Viện Vật lý năm 1981. Ảnh VAST
Nhằm ghi nhận những đóng góp nền móng và xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học dân tộc, Nhà nước Việt Nam đã trao tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Khoa học và Kỹ thuật (1996) cùng danh hiệu Anh hùng Lao động (1986).
Tên tuổi của Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu đã trở thành một biểu tượng bất hủ cho trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần phụng sự Tổ quốc. Chuỗi thành tựu rực rỡ tại Dubna cùng Giải thưởng Lenin lịch sử của Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu không chỉ là đỉnh cao cá nhân mà còn là ngọn hải đăng soi đường, chứng minh cho thế giới thấy rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể đứng ở những đỉnh cao nhất của tri thức nhân loại.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.