Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu:Ngọn hải đăng của nền khoa học Việt Nam
Nam Phong•
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu là biểu tượng tượng trưng cho trí tuệ, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng vươn ra biển lớn của trí thức Việt Nam.
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu (1938 - 2022)
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu (21/07/1938 – 23/01/2022) là một trong những huyền thoại lớn nhất của nền khoa học cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ là một nhà vật lý lý thuyết xuất sắc mang tầm vóc quốc tế với những công trình nghiên cứu ghi dấu ấn sâu đậm tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (Liên Xô), mà còn là nhà quản lý khoa học đại tài, người đặt nền móng kiến tạo nên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng như Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Từng vinh dự nhận Giải thưởng Lenin về Khoa học và Kỹ thuật (1986) – giải thưởng khoa học danh giá hàng đầu thế giới thời bấy giờ, cùng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996) và danh hiệu Anh hùng Lao động, GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu là biểu tượng tượng trưng cho trí tuệ, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng vươn ra biển lớn của trí thức Việt Nam.
Nhằm khắc họa một cách toàn diện, khách quan và chân thực nhất về cuộc đời, sự nghiệp cùng những di sản vô giá mà ông để lại, Tạp chí Một Thế Giới trân trọng giới thiệu loạt bài: "GS. Nguyễn Văn Hiệu – Ngọn hải đăng của nền khoa học Việt Nam".
Kỳ 1: Chàng trai Cầu Đơ
và giấc mơ từ những hạt cơ bản
Chưa đầy 25 tuổi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, 26 tuổi trở thành Tiến sĩ khoa học Toán - Lý, và 30 tuổi được phong hàm Giáo sư tại Liên Xô, Nguyễn Văn Hiệu đã viết nên một câu chuyện kỳ diệu của trí tuệ Việt Nam. Nhưng ít ai biết rằng, xuất phát điểm của nhà vật lý lý thuyết hàng đầu ấy lại bắt đầu từ một vùng quê nghèo ven sông Đáy, trong những năm tháng chiến tranh thiếu thốn trăm bề.
Mái nhà bên sông Đáy và tuổi thơ trong khói lửa kháng chiến
Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu sinh ngày 21 tháng 7 năm 1938 tại làng Cầu Đơ, nay thuộc phường Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình công chức nhỏ. Cha ông là một công chức bưu điện hiền lành, mẹ là người phụ nữ tảo tần gánh vác việc gia đình. Tuổi thơ của cậu bé Nguyễn Văn Hiệu trải qua trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa kháng chiến chống Pháp. Gia đình phải di chuyển qua nhiều vùng quê tản cư, từ Hà Đông, Hòa Bình cho đến Thanh Hóa.
Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu cùng gia đình trong những năm kháng chiến. Ảnh tư liệu gia đình
Giữa muôn vàn thiếu thốn của thời kỳ chiến tranh, khi mà cái ăn, cái mặc còn là nỗi lo toan hằng ngày, ngọn lửa ham học của cậu học trò Nguyễn Văn Hiệu vẫn chưa bao giờ tắt. Ở những nơi tản cư, dù điều kiện học tập vô cùng kham khổ, không có đủ sách vở, bút mực, cậu vẫn tìm mọi cách mượn tài liệu của thầy cô và các anh chị lớp trên để tự học. Tư duy toán học và tự nhiên sắc bén của ông sớm bộc lộ từ những năm tháng học cấp II, cấp III tại khu vực Thanh Hóa.
“
Tài sản duy nhất mà tôi mang theo trong suốt những năm tháng tản cư kháng chiến chính là niềm đam mê mãnh liệt với các con số và hình học. Trong cái thiếu thốn của ánh đèn dầu tản cư, sách vở mượn lại của thầy cô chính là thế giới rộng lớn nhất đối với tôi.
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, cậu thanh niên 16 tuổi Nguyễn Văn Hiệu trở về Hà Nội, bước chân vào giảng đường Trường Đại học Sư phạm Khoa học Hà Nội. Lúc bấy giờ, cơ sở vật chất của ngành giáo dục đại học non trẻ còn rất sơ khai, trang thiết bị thí nghiệm hầu như không có, tài liệu chuyên khảo về khoa học tự nhiên vô cùng khan hiếm, phần lớn phải dựa vào sách giáo khoa dịch từ tiếng Pháp hoặc tiếng Nga.
Thế nhưng, chính trong môi trường đầy thử thách ấy, tình yêu đối với vật lý - môn khoa học giải mã quy luật vận động của vũ trụ - đã bùng cháy mạnh mẽ trong lòng Nguyễn Văn Hiệu. Với trí nhớ siêu việt, khả năng tư duy trừu tượng sắc sảo và phương pháp tự học độc lập, ông không chỉ lĩnh hội toàn bộ chương trình đào tạo một cách xuất sắc mà còn tự nghiên cứu sâu các vấn đề vật lý hiện đại.
Chỉ sau hai năm nỗ lực học tập miệt mài, năm 1956, khi mới tròn 18 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu đã tốt nghiệp cử nhân Vật lý loại xuất sắc.
Người thầy giáo trẻ trên bục giảng Đại học Tổng hợp
Ngay sau khi tốt nghiệp đại học, nhờ thành tích học tập vượt trội và tài năng thiên bẩm, Nguyễn Văn Hiệu được Nhà nước và nhà trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).
GS Hiệu bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 25 tuổi. Ảnh tư liệu
Cùng với nhà sinh học tài năng Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Văn Hiệu trở thành một trong những giảng viên trẻ tuổi nhất trong lịch sử của trường thời bấy giờ. Khi đứng trên bục giảng đại học ở độ tuổi đôi mươi, thầy giáo trẻ Nguyễn Văn Hiệu chỉ lớn hơn sinh viên của mình vài tuổi, nhưng phong thái đĩnh đạc, tư duy logic mạch lạc cùng cách truyền đạt vấn đề sâu sắc đã nhanh chóng chinh phục các thế hệ người học.
“
Khi tôi bắt đầu lên bục giảng Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 18 tuổi, các sinh viên trong lớp đều bằng hoặc lớn tuổi hơn thầy. Để đứng vững trên bục giảng, không có cách nào khác ngoài việc phải học liên tục, đọc sâu hơn và nắm chắc bản chất của từng vấn đề vật lý hơn bất kỳ ai.
GS. Nguyễn Văn Hiệu
Trong suốt 4 năm gắn bó với bục giảng từ năm 1956 đến năm 1960, không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy truyền thụ kiến thức, ông còn âm ỉ nuôi dưỡng một khát vọng lớn hơn: Đưa vật lý lý thuyết của Việt Nam vươn ra tầm thế giới, tiếp cận với những đỉnh cao khoa học đương đại mà đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh chưa thể với tới.
Bước ngoặt lịch sử: Đến "thánh địa" Dubna
Cơ hội ấy đã đến vào tháng 10 năm 1960, một quyết định làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời Nguyễn Văn Hiệu và mở ra một chương mới cho vật lý lý thuyết Việt Nam: Ông được Nhà nước cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna.
Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu trò chuyện cùng các nhà khoa học, đồng nghiệp quốc tế tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (Liên Xô cũ) – nơi ông từng có nhiều năm công tác, nghiên cứu và đạt được những công trình đỉnh cao được thế giới công nhận. Ảnh tư liệu
Viện Dubna thời điểm đó được coi là "thánh địa" của vật lý hạt nhân thế giới, nơi tập trung những bộ óc kiệt xuất nhất của Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa. Được làm việc tại đây là giấc mơ của mọi nhà vật lý trẻ, nhưng đồng thời cũng là một thử thách nghiệt ngã. Khi bước chân đến Dubna, chàng thanh niên 22 tuổi Nguyễn Văn Hiệu phải đối mặt với rào cản ngôn ngữ, sự chênh lệch quá lớn về trình độ đào tạo ban đầu và sự khốc liệt của những đỉnh cao khoa học đương đại.
Tại Dubna, Nguyễn Văn Hiệu được nhận vào Phòng Lý thuyết, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của hai nhà bác học lừng danh thế giới: Viện sĩ M.A. Markov và Viện sĩ A.N. Logunov. Nhận thấy tiềm năng đặc biệt của chàng trai Việt Nam nhỏ thốn, các nhà khoa học Xô Viết đã giao cho ông những đề tài nghiên cứu khó nhất thời bấy giờ: Vật lý neutrino và các tương tác yếu.
Không để mất một giây phút nào, Nguyễn Văn Hiệu bắt tay vào làm việc với một cường độ khủng khiếp. Đồng nghiệp tại Dubna thời đó vẫn truyền tai nhau câu chuyện về người thanh niên Việt Nam gầy gò, mắt sáng quắc, làm việc từ 14 đến 16 tiếng mỗi ngày. Phòng làm việc của ông tại Dubna luôn sáng đèn đến tận đêm khuya. Ông tự học tiếng Nga cấp tốc để đọc tài liệu, vừa nghiên cứu lý thuyết, vừa tham gia tính toán các mô hình toán học phức tạp.
Cường độ làm việc thép và tốc độ bảo vệ học vị thần tốc
Để theo kịp và vượt lên các đồng nghiệp quốc tế, Nguyễn Văn Hiệu đã tự đặt ra cho mình một kỷ luật lao động thép. Những người từng làm việc cùng ông tại Dubna sau này vẫn thường kể lại hình ảnh một nhà khoa học trẻ gầy gò, đôi mắt sáng quắc, miệt mài bên bàn làm việc từ 14 đến 16 tiếng mỗi ngày. Phòng làm việc của ông tại viện nghiên cứu luôn là nơi sáng đèn muộn nhất.
Ảnh tư liệu
Bằng phương pháp tự học thần tốc, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã làm chủ hoàn toàn tiếng Nga, đọc thông thạo các tài liệu chuyên khảo tiên tiến nhất, đồng thời tự mình phát triển các mô hình toán học phức tạp để giải quyết các bài toán vật lý hạt nhân.
Tháng 4 năm 1963: Chỉ sau hai năm rưỡi miệt mài nghiên cứu tại Dubna, khi mới 24 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu đã hoàn thành xuất sắc bản luận án Tiến sĩ (thời đó gọi là Phó Tiến sĩ) chuyên ngành Vật lý lý thuyết và Vật lý toán, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Viện sĩ M.A. Markov.
Năm 1964: Không dừng lại ở đó, với một chuỗi các công trình nghiên cứu đột phá về lý thuyết hạt cơ bản, ông tiếp tục hoàn thành và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học (Doctor of Science) – học vị học thuật cao nhất trong hệ thống giáo dục và khoa học Xô Viết lúc bấy giờ.
Điều kinh ngạc đối với giới khoa học Xô Viết khi đó là Nguyễn Văn Hiệu bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học khi mới 26 tuổi, với sự đồng ý tuyệt đối 100% từ Hội đồng Khoa học của Viện Dubna. Sự kiện này đã tạo nên một tiếng vang lớn, đánh dấu lần đầu tiên một nhà khoa học trẻ người Việt Nam chinh phục thành công đỉnh cao học thuật quốc tế bằng một thực lực hoàn toàn thuyết phục.
Khẳng định vị thế trên trường quốc tế ở tuổi 30
Thành công dồn dập tại Dubna không chỉ là những tấm bằng học vị danh giá, mà được minh chứng bằng khối lượng công trình khoa học đồ sộ được công bố trên các tạp chí vật lý lý thuyết hàng đầu thế giới.
Đầu những năm 1960, Nguyễn Văn Hiệu đã công bố hàng loạt bài báo khoa học đột phá về các hiện tượng đối xứng của hạt cơ bản và tương tác yếu. Năm 1967, nhà xuất bản khoa học uy tín tại Moscow đã ấn hành cuốn sách chuyên khảo tổng kết các công trình nghiên cứu của ông mang tựa đề "Thuyết đối xứng đơn của các hạt cơ bản", với lời đề tựa trân trọng của Viện trưởng Viện Dubna – nhà bác học lỗi lạc N.N. Bogolubov.
Viện sĩ A.N. Logunov
“
Nguyễn Văn Hiệu là một trong những nhà vật lý lý thuyết xuất sắc và có sức làm việc phi thường nhất mà Viện Dubna từng chứng kiến. Những đóng góp của ông trong lý thuyết trường lượng tử và vật lý hạt cơ bản không chỉ làm rạng danh đất nước Việt Nam mà còn đóng góp trực tiếp vào kho tàng tri thức vật lý của nhân loại.
Viện sĩ A.N. Logunov (Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dubna, Hiệu trưởng ĐH Tổng hợp Lomonosov Moscow)
Đến năm 1968, khi tròn 30 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu chính thức được phong hàm Giáo sư vật lý lý thuyết tại Liên Xô, trở thành một trong những giáo sư trẻ nhất của cộng đồng khoa học xã hội chủ nghĩa thời kỳ đó.
Đứng ở đỉnh cao danh vọng quốc tế, được các trung tâm nghiên cứu lớn của Liên Xô và thế giới mời gọi ở lại làm việc với đãi ngộ cao, nhưng trong tâm khảm của người con xứ Cầu Đơ, hướng đi đã được định đoạt từ rất sớm: Tri thức học được ở chân trời thế giới phải được mang về để vun đắp cho nền khoa học của Tổ quốc đang rực lửa chiến tranh.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.