Cuộc đời nhà khoa học

GS. Đặng Văn Ngữ - Người mang sự sống từ chiến khu ra mặt trậnKỳ 4: Mang phòng thí nghiệm vào trường sơn và chuyến đi định mệnh

Hồng Thanh, Nam Phong

Bỏ lại sau lưng vị thế viện trưởng cùng phòng thí nghiệm đầy đủ tiện nghi ở thủ đô, Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã dũng cảm mang theo trang thiết bị khoa học bước vào tuyến lửa Trường Sơn theo đuổi khát vọng chế tạo vắc-xin chống sốt rét. Hành trình dấn thân ấy không chỉ là nỗ lực tìm kiếm giải pháp y tế cứu chữa cho những người lính trận mạc, mà còn là bản hùng ca bi tráng về nhân cách và trí tuệ của một nhà khoa học trọn đời phụng sự Tổ quốc.

Giáo sư Đặng Văn Ngữ (kỳ 4)

Từ vị thế viện trưởng thủ đô đến những bước chân luyện tập xuyên mùa đông

Đầu năm 1967, khi quyết định cử GS. Đặng Văn Ngữ vào chiến trường được thông qua, không ít người trong ngành y tế cảm thấy bất ngờ. Ở tuổi 56, ông đang là Viện trưởng Viện Sốt rét, Kí sinh trùng và Côn trùng, là chuyên gia đầu ngành về vi sinh và ký sinh trùng học của Việt Nam. Với vị trí ấy, ông hoàn toàn có thể ở lại Hà Nội để chỉ đạo nghiên cứu từ xa, tiếp nhận các mẫu bệnh phẩm từ chiến trường và tổ chức các nhóm nghiên cứu phía sau. Nhưng ông lựa chọn một con đường khác.

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ kiểm tra nước lọc penicillin trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh tư liệu)
GS. Đặng Văn Ngữ kiểm tại phòng thí nghiệm. (Ảnh tư liệu)

Lý do của quyết định ấy không nằm ở tinh thần xung phong đơn thuần. Đối với GS. Đặng Văn Ngữ, khoa học muốn tạo ra lời giải đúng phải được đặt giữa chính nơi vấn đề đang tồn tại. Những mẫu máu chuyển về Hà Nội không thể phản ánh đầy đủ diễn biến của bệnh trong điều kiện khí hậu, địa hình và môi trường sinh thái của rừng Trường Sơn. Những báo cáo thống kê cũng không thể thay thế việc trực tiếp quan sát tập tính của muỗi truyền bệnh, sự biến đổi của ký sinh trùng và phản ứng của người bệnh trong điều kiện chiến tranh. Muốn hoàn thiện hướng nghiên cứu về thuốc tiêm phòng sốt rét, ông phải đến nơi sốt rét đang hoành hành dữ dội nhất.

Hòa bình lập lại sau kháng chiến chống Pháp, vấn đề điều tra và nghiên cứu tình hình sốt rét ở nước ta - căn bệnh đã kìm hãm bước tiến của nhân dân Việt Nam - được đặt thành kế hoạch với quy mô rộng nhằm tìm quy luật phát sinh bệnh và có phương án chống, tiêu diệt sốt rét hiệu quả. GS. Đặng Văn Ngữ đã dồn toàn lực cho nghiên cứu về phòng chống sốt rét, bao gồm cả diệt trùng sốt rét và chống muỗi. Ông đã thành lập một nhóm chuyên gia, đi đến các vùng có sốt rét để lấy mẫu máu, khảo sát tình hình dịch tễ, tìm hiểu cơ chế lây truyền và đề xuất biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất.

Ảnh màn hình 2026-08-07 lúc 02.10.40

Giai đoạn từ năm 1955 đến 1957 ghi nhận những con số đồ sộ về sự miệt mài của ông và đồng nghiệp: hơn 3.000 điểm điều tra với 1/10 tổng dân số vùng sốt rét, 646.277 người được khám lá lách, 435.370 người được thử máu, 319.087 ngôi nhà được điều tra muỗi và 168.984 điểm nước được kiểm tra bọ gậy.

Không chỉ ở phòng thí nghiệm, ông còn đích thân đi thực địa đến những vùng rừng sâu, nơi sốt rét hoành hành dữ dội nhất, để quan sát tận mắt, lấy mẫu, thử nghiệm thuốc và tư vấn cho các đơn vị y tế tuyến đầu. Đêm xuống, GS. Đặng Văn Ngữ cùng các cộng sự không quản ngại "vén ống quần, tay áo làm mồi cho muỗi hút máu", chụp bắt từng con cho vào ống nghiệm, mổ muỗi, soi kính hiển vi tìm thoa trùng sốt rét trong cơ thể muỗi, rồi làm tiêu bản xác định tên khoa học. Nhờ sự dấn thân quyết liệt đó, đến năm 1964, số người mắc sốt rét ở miền Bắc đã giảm đột ngột tới 20 lần.

Thế nhưng, ở miền Nam khốc liệt lúc bấy giờ, cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng hoạt động tại vùng rừng núi, nông thôn bị sốt rét hoành hành dữ dội, có nơi chiếm hơn 50% quân số, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức chiến đấu.

z8120898195365_ad2c605085bba057218513ed41cf5d7c(1).jpg
Bảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam của Viện Sốt rét - Kí sinh trùng - Côn trùng Trung ương, 1968 dựa trên bảng định loại 22 loài Anophelinae của GS. Đặng Văn Ngữ và GS. Henry Galliard, 1947. Ảnh đang trược trưng bày tại Công viên Di sản các Nhà khoa học - MEDDOM

Trăn trở tìm ra loại vắc-xin chống sốt rét tận gốc, Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã đề xuất nguyện vọng đi B. Ban đầu, Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chấp thuận vì ông đã lớn tuổi, lại là một giáo sư đầu ngành, một tài sản vô giá của quốc gia không thể để gặp nguy hiểm ở những vùng chiến sự.

Để có thể vào Nam và mang vác trên vai đủ cơ số đồ dùng cần thiết, vị nhà khoa học đã âm thầm chuẩn bị thể lực đầy nghiêm túc. Những người thân trong gia đình sau này kể lại rằng ông thay đổi nhiều thói quen vốn đã gắn bó hàng chục năm; người luôn mang giày da mỗi khi ra ngoài bắt đầu tập đi dép cao su. Buổi tối, sau giờ làm việc, ông đeo một chiếc ba lô đựng đầy gạch rồi đi bộ quanh khu nhà, ban đầu chỉ vài vòng, sau đó tăng dần quãng đường và trọng lượng. Ông hiểu rất rõ rằng hành trình vào Trị Thiên không dành cho một giáo sư sống quen với bàn làm việc, và nếu không chuẩn bị thể lực, chính ông sẽ trở thành người làm chậm bước cả đoàn.

kí sinh trùng
GS Đặng Văn Ngữ (giữa) trong một lần thuyết trình với Bác Hồ về môn Ký sinh trùng (Ảnh: Tư liệu).

Đỉnh điểm của sự quyết tâm ấy diễn ra vào một sáng mùa đông lạnh cóng. GS. Đặng Văn Ngữ với chiếc ba lô chứa nặng 25kg gạo và một ruột tượng đựng thêm 5kg gạo đã đi bộ một mạch từ làng Mễ Trì, qua Ngã Tư Sở, Khâm Thiên, lên phố Trần Hưng Đạo và dừng chân nghiêm trang trước nhà riêng của Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch. Trước ý chí phi thường và tấm lòng vì nước vì dân ấy, đề xuất của ông cuối cùng đã được chấp thuận.

Hành trang tri thức vượt Trường Sơn và phòng thí nghiệm giữa đại ngàn

Những tháng cuối năm 1966, trong khi hoàn tất các công việc của Viện, GS. Đặng Văn Ngữ lặng lẽ chuẩn bị cho chuyến đi lớn của cuộc đời. Khoảng cuối năm 1966, ông cùng 12 cán bộ của Viện được đưa lên Lương Sơn, Hòa Bình để huấn luyện bí mật. Nội dung huấn luyện không phải chuyên môn mà là hành quân, mang vác và thích nghi với điều kiện chiến trường. Nhiều người đề nghị dành cho ông một số ưu tiên vì tuổi tác và cương vị công tác, nhưng ông đều từ chối. Trong những chặng đường luyện tập, người ta vẫn thấy vị giáo sư tóc đã điểm bạc mang ba lô như mọi người, nghỉ đúng giờ quy định và tuyệt đối chấp hành kỉ luật của đoàn. Với ông, từ khi bước vào rừng, không còn khoảng cách giữa viện trưởng và kỹ thuật viên; tất cả đều là thành viên của một đoàn nghiên cứu.

Một trạm y tế, nơi các bác sĩ quân y đang điều trị cho bộ đội. Ảnh tư liệu
Một trạm y tế, nơi các bác sĩ quân y đang điều trị cho bộ đội. Ảnh tư liệu

Trước lúc lên đường, GS. Đặng Văn Ngữ đã làm một việc khiến những người thân luôn day dứt khi nhớ lại. Ông lên Việt Bắc thắp hương trước mộ người vợ đã mất từ nhiều năm trước. Không ai biết ông đã nghĩ gì trong lần viếng thăm ấy, chỉ biết gia đình từng kể rằng ông hy vọng nếu có dịp sẽ ghé qua Huế để thăm người mẹ già và những người thân ruột thịt sau nhiều năm xa cách, nhưng chiến tranh đã khiến mong ước rất bình thường ấy mãi mãi không thể trở thành hiện thực. Trước khi đi, ông cũng viết thư cho các con đang học tập ở nước ngoài. Lá thư gửi con gái Đặng Nguyệt Quý đề ngày 1 tháng 2 năm 1967 là tư liệu quý giúp hiểu rõ hơn tâm trạng của ông, không có lời dặn dò về sự hiểm nguy hay dự cảm bất an, mà đong đầy niềm hứng khởi của một người vừa nhìn thấy triển vọng lớn:

Ba rất phấn khởi vì công việc rất cần thiết và cấp bách. Sau khi con đi, Ba vào Vĩnh Linh nghiên cứu trong bốn tháng và thấy có thể sản xuất được thuốc để tiêm phòng sốt rét. Ba sẽ đi B để sản xuất thuốc ấy trên một quy mô lớn hơn. Triển vọng rất nhiều nhưng khó khăn cũng rất nhiều. Ba sẽ cố gắng.

trích thư của GS. Đặng Văn Ngữ gửi con gái

Đọc lá thư ấy, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất không chỉ là sự lạc quan mà là niềm tin khoa học tuyệt đối. Ông không bước vào chiến trường như một người chấp nhận hy sinh bi lụy, mà như một nhà nghiên cứu đang nóng lòng kiểm chứng một giả thuyết trọng đại.

Điều đặc biệt chú ý là hành lí của đoàn không chỉ có lương thực, thuốc men và tư trang cá nhân đơn thuần. Phần quan trọng nhất là những thiết bị nghiên cứu được lựa chọn rất cẩn thận: kính hiển vi, hóa chất, dụng cụ xét nghiệm, tài liệu chuyên môn và nhiều vật tư cần thiết để dựng một phòng thí nghiệm dã chiến. Chuyến đi ấy vì thế khác với nhiều đoàn công tác khác; họ không chỉ mang theo thuốc chữa bệnh mà mang theo cả một không gian nghiên cứu khoa học vào tuyến lửa.

Đầu xuân năm 1967, tranh thủ thời gian ngừng bắn nhân dịp Tết Nguyên đán, đoàn công tác đặc biệt gồm 13 thành viên do GS. Đặng Văn Ngữ làm trưởng đoàn bắt đầu hành trình từ Hà Nội vào Vĩnh Linh. Sau một tháng hành quân bộ vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ, gian khổ, đoàn đã tiến vào đến B2 thuộc khu vực Trị Thiên - Huế.

băng rừng trường sơn
Đường hành quân trên rừng Trường Sơn hiểm nguy và gian khổ. Ảnh tư liệu

Đến nơi đóng quân, yêu cầu đầu tiên của GS. Đặng Văn Ngữ không phải là nghỉ ngơi sau chặng hành quân dài đằng đẵng, mà là dựng ngay phòng thí nghiệm. Giữa núi rừng, trong điều kiện thiếu thốn đủ bề, yêu cầu ấy khiến nhiều người ngạc nhiên vì không ai trong đoàn biết dựng nhà, càng không biết làm thế nào để tạo nên một nơi làm việc đủ sạch sẽ cho các nghiên cứu vi sinh.

Nhưng ông kiên trì hướng dẫn tỉ mỉ từ việc chọn vị trí dựng lán, bố trí bàn làm việc, nơi đặt kính hiển vi cho đến khu vực bảo quản hóa chất. Ông thường nói rằng hoàn cảnh chiến tranh không cho phép có một phòng thí nghiệm đầy đủ tiện nghi, nhưng không vì thế mà được phép cẩu thả trong nghiên cứu. Giữa đại ngàn Trường Sơn, nơi tiếng máy bay và bom đạn có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, ông vẫn miệt mài dựng lên một phòng thí nghiệm nhỏ với niềm tin rằng từ nơi ấy có thể bắt đầu một hướng đi mới trong cuộc chiến chống sốt rét.

Ngày định mệnh giữa đại ngàn và di sản bất tử của một nhân cách lớn

Phòng thí nghiệm giữa rừng Trị Thiên vừa đi vào hoạt động chưa được bao lâu thì chiến tranh lại hiện hữu với tất cả sự khốc liệt vốn có của nó. Những ngày cuối tháng 3 năm 1967, bom đạn liên tục dội xuống các cánh rừng phía tây Thừa Thiên. Đoàn nghiên cứu vẫn âm thầm làm việc dưới những tán cây, tranh thủ từng khoảng thời gian yên tiếng máy bay để thu thập mẫu bệnh phẩm, quan sát muỗi truyền bệnh và tiến hành các thí nghiệm ban đầu, bởi mọi người đều hiểu rằng chiến trường không bao giờ cho phép một công trình khoa học được tiến hành trong điều kiện lí tưởng.

Khó khăn lớn nhất lúc ấy không chỉ là thiếu dụng cụ nghiên cứu mà là thiếu lương thực. Sau nhiều năm tháng làm việc liên tục, lượng gạo mang theo gần như cạn kiệt. Cuối tháng 3, đoàn quyết định cử mười cán bộ đến một đơn vị cách đó khoảng nửa ngày đường để nhận gạo. Ở lại khu lán chỉ còn GS. Đặng Văn Ngữ, hai nữ kỹ thuật viên và một chiến sĩ liên lạc. Không ai biết rằng đó là sự sắp đặt cuối cùng của số phận.

Những người cùng đi lấy gạo sau này kể lại rằng sáng ngày 1/4/1967 diễn ra như bao buổi sáng khác. GS. Đặng Văn Ngữ vẫn dậy rất sớm, hỏi han công việc của từng người, rồi chia phần thức ăn ít ỏi của mình cho các đồng nghiệp. Trước lúc mọi người lên đường, ông còn lấy bao thuốc lá quân lực, đưa cho mỗi cán bộ nam một điếu. Một cử chỉ rất bình thường, giống như biết bao ngày làm việc trước đó, không ai nghĩ đó là lần cuối cùng họ được nhìn thấy người thầy của mình. Đoàn nhận gạo đến đơn vị bộ đội vào buổi chiều, nghỉ lại một đêm rồi sáng sớm ngày 1/4 bắt đầu trở về. Trên đường đi, họ bắt được vài con cá suối - món quà hiếm hoi giữa tháng ngày thiếu thốn, và mọi người bàn nhau nướng cá mang về dành phần ngon nhất cho GS. Đặng Văn Ngữ.

mảnh nhôm khắc tên GS. Đặng Văn Ngữ hy sinh
Tấm biển nhôm chôn cùng thi hài cố GS Đặng Văn Ngữ (Ảnh: Tư liệu).

Khoảng giữa buổi sáng ngày 1/4/1967, khi đoàn còn cách khu lán không xa, tiếng động cơ phản lực bất ngờ vang lên trên bầu trời. Những chiếc B-52 xuất hiện rồi ngay sau đó là những loạt bom rải thảm trút xuống cánh rừng nơi phòng thí nghiệm dã chiến vừa được dựng lên. Mặt đất rung chuyển, khói bụi phủ kín cả khu rừng. Khi trận bom kết thúc, mọi người hớt hải chạy về khu lán với hi vọng vẫn còn ai đó sống sót, nhưng trước mắt họ chỉ còn những hố bom chồng lên nhau, cây rừng gãy đổ ngổn ngang và dấu vết của phòng thí nghiệm đã bị san phẳng hoàn toàn. Giáo sư Đặng Văn Ngữ, hai nữ kỹ thuật viên và người chiến sĩ liên lạc đã hy sinh ngay trong trận bom. Những con cá suối vẫn còn nguyên trong gùi nhưng không còn ai để nhận phần cá mà đồng đội đã để dành; không còn ai để tiếp tục những thí nghiệm còn dang dở trên bàn kính hiển vi giữa rừng; không còn ai để hoàn thành lời hứa trong bức thư gửi con gái: “Ba sẽ đi B để sản xuất thuốc ấy trên một quy mô lớn hơn...”. Công trình nghiên cứu vắc-xin sốt rét dừng lại vĩnh viễn vào buổi sáng định mệnh ấy.

Sau trận bom khốc liệt, thi hài của ông và các đồng đội được chôn cất ngay tại khu vực đóng quân. Suốt nhiều năm sau đó, ông nằm lại giữa đại ngàn Trường Sơn như hàng vạn người lính vô danh khác. Chỉ đến cuối những năm 1980, hài cốt của ông mới được phát hiện và đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, rồi đến năm 2000, gia đình cải táng ông về an nghỉ tại nghĩa trang họ Đặng dưới chân núi Ngự Bình, thành phố Huế.

Ảnh màn hình 2026-08-07 lúc 02.07.28

Nhìn lại cuộc đời oanh liệt của ông, trong bài viết về cha mình, NSND Đặng Nhật Minh đã có một nhận xét khiến nhiều người xúc động thấu tâm can:

“Cha tôi đã chia sẻ đến tận cùng số phận của đất nước, của nhân dân mình cho đến khi ông ngã xuống trên rừng Trường Sơn dưới mưa bom B-52, như bất cứ người lính nào đã ngã xuống trên dải đất này vì sự nghiệp cao cả và thiêng liêng của Tổ quốc.”

Đó không chỉ là lời tưởng niệm của một người con, mà còn là sự khái quát vẹn toàn về một lựa chọn sống dấn thân đến tận cùng. Sự ra đi của giáo sư, bác sĩ Đặng Văn Ngữ là một mất mát vô cùng to lớn của nền y học nước nhà.

Nhìn lại gần sáu thập kỉ sau ngày GS. Đặng Văn Ngữ hi sinh, điều khiến người ta nhớ đến ông không chỉ là công trình penicillin, không chỉ là chương trình thanh toán sốt rét ở miền Bắc, cũng không chỉ là sự hy sinh giữa chiến trường. Điều còn ở lại chính là một câu hỏi chưa bao giờ có lời đáp. Nếu trận bom B-52 không xảy ra vào sáng ngày 1/4/1967, liệu hướng nghiên cứu về thuốc tiêm phòng và vắc xin chống sốt rét mà ông đang theo đuổi có thể đi xa đến đâu?

Lịch sử không có chữ "nếu". Nhưng chính câu hỏi ấy khiến chuyến đi của GS. Đặng Văn Ngữ không chỉ là câu chuyện về sự hy sinh của một nhà khoa học. Đó còn là câu chuyện về một công trình khoa học bị ngắt quãng khi đang ở thời điểm nhiều hi vọng nhất.

(Mời bạn đọc đón đọc kỳ cuối: Từ học trò đội sổ đến Nhà khoa học ưu tú - lời tự bạch trọn đời dấn thân, vào lúc 9h ngày 8/8).

Nổi bật
      Mới nhất
      GS. Đặng Văn Ngữ - Người mang sự sống từ chiến khu ra mặt trận Kỳ 4: Mang phòng thí nghiệm vào trường sơn và chuyến đi định mệnh
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO