GS. Hồ Đắc Di(Kì 2): Từ Bác sĩ thượng lưu đến 'tiếng gọi cụ Hồ' vào chiến khu
Nam Phong•25/09/2026 08:16
Rời bỏ dinh thự sang trọng và cuộc sống nhung lụa nơi thành thị, Giáo sư Hồ Đắc Di đã theo tiếng gọi của Bác Hồ lên chiến khu, mang đôi tay vàng ngoại khoa cứu chữa cho đồng bào và chiến sĩ.
Đêm giao thời lịch sử và sự thức tỉnh của trí thức tinh hoa giữa vòng vây bão táp
M
ùa thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mặt trận Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công vang dội. Chế độ phong kiến sụp đổ, ách thống trị gần một thế kỷ của thực dân Pháp và phát-xít Nhật bị đập tan, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tại Quảng trưởng Ba Đình lịch sử, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố với thế giới về nền độc lập của nước Việt Nam.
Tuy nhiên, nền độc lập non trẻ ấy vừa mới ra đời đã phải đối mặt với tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc với dã tâm lật đổ chính quyền cách mạng, thực dân Pháp nấp bóng quân Anh quay lại gây hấn ở miền Nam, và hiểm họa từ thù trong giặc ngoài vây tứ phía. Đến cuối năm 1946, dã tâm cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp bộc lộ rõ ràng qua các tối hậu thư và hành động khiêu khích khắp nơi, đẩy đất nước đứng trước thềm một cuộc chiến tranh toàn diện.
Chính trong bối cảnh ngặt nghèo và khốc liệt ấy, toàn bộ cấu trúc xã hội Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trí thức Tây học (những người từng quen sống trong nhung lụa thành thị và chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa Pháp), rơi vào một cuộc giằng xé tư tưởng sâu sắc. Khi tiếng súng chiến tranh cận kề và thực dân Pháp chính thức quay lại xâm lược, họ không thể mãi đứng ở lằn ranh trung lập. Trước mắt họ là một ngã rẽ định mệnh: Hoặc chọn ở lại thành thị dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp để giữ an toàn cá nhân và tài sản; hoặc dứt khoát từ bỏ tất cả để đi theo tiếng gọi của Chính phủ kháng chiến, dấn thân vào con đường gian khổ cùng nhân dân.
Bác sĩ Hồ Đắc Di thời trẻ. Ảnh tư liệu
“
Cách mạng đã mở ra một chân trời mới cho đất nước, và trong chân trời ấy, người trí thức chân chính không thể đứng ngoài cuộc. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để khoa học và y học Việt Nam có thể phát triển thực sự phục vụ cho đồng bào.
- Giáo sư Hồ Đắc Di
Giữa bức tranh đầy dao động ấy, Giáo sư Hồ Đắc Di - một tên tuổi lớn của y học Đông Dương, con trai của một vị Thượng thư triều đình phong kiến - đã đưa ra lựa chọn dứt khoát. Ông chọn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo Tổ quốc, đồng bào.
Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập nhưng đứng trước muôn vàn thử thách ngặt nghèo, khi mà nền y tế nước nhà thiếu thốn trăm bề, nạn đói, nạn dốt và dịch bệnh hoành hành, sự dấn thân của những trí thức tên tuổi như ông mang ý nghĩa cổ vũ to lớn. Không chỉ dừng lại ở nhận thức chính trị, ông đã biến tinh thần ấy thành hành động thiết thực bằng việc chấp nhận giao phó toàn bộ năng lực chuyên môn để xây dựng hệ thống y tế cho nhà nước cách mạng non trẻ.
Cuộc gặp gỡ định mệnh với Chủ tịch Hồ Chí Minh và sứ mệnh chấn hưng y học nước nhà
Một trong những dấu mốc mang tính quyết định nhất trong cuộc đời của Giáo sư Hồ Đắc Di chính là cơ duyên được diện kiến, trò chuyện và làm việc trực tiếp với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy tầm quan trọng sống còn của lực lượng trí thức khoa học - kĩ thuật, đặc biệt là ngành y tế trong bối cảnh "giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" đang vây hãm, đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng từng giờ từng phút.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn chiến lược vĩ đại đã thấu hiểu nỗi lòng, tâm huyết và tài năng lớn của bác sĩ Hồ Đắc Di. Trong một buổi gặp gỡ riêng đầy cảm động tại Bắc Bộ Phủ, Người đã trực tiếp trao đổi, lắng nghe những trăn trở của vị bác sĩ tài danh đối với sự phát triển của nền y học nước nhà, đồng thời giao phó cho ông những trọng trách nặng nề nhưng vô cùng vinh quang. Không có sự cách biệt giai cấp hay khoảng cách giữa lãnh tụ và trí thức cũ, Bác Hồ đã dùng sự chân thành, lòng yêu nước thiết tha và tầm nhìn về một nền y học tự chủ để thuyết phục, hiệu triệu ông.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đại học Y (năm 1955). Ảnh: Tư liệu
Chính từ cuộc gặp gỡ mang tính lịch sử ấy, ngọn lửa cách mạng trong lòng vị công tử phủ tôn xứ Huế đã thực sự bùng cháy mãnh liệt. Ông không chút do dự nhận lời tham gia chính quyền cách mạng, được Chính phủ và Bác Hồ tin tưởng giao giữ trọng trách Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Hà Nội (từ năm 1945), cùng các chức vụ quan trọng khác như Tổng thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Đại học vụ và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy. Ông bắt tay ngay vào sứ mệnh cao cả: duy trì, cải tổ và phát triển nền giáo dục y khoa nước nhà trong muôn vàn thiếu thốn của những ngày đầu độc lập.
Sự tin tưởng tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Giáo sư Hồ Đắc Di không chỉ xuất phát từ tài năng ngoại khoa thiên bẩm mà còn bởi tấm lòng trong sáng, sự tận tụy không mệt mỏi vì nhân dân của ông. Dưới sự dẫn dắt của ông, đội ngũ y bác sĩ thời kì đầu cách mạng đã từng bước vượt qua những định kiến của xã hội cũ, khẳng định vị thế và vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe cho đồng bào và chiến sĩ.
Khói lửa Toàn quốc kháng chiến và quyết định rời bỏ thủ đô lên chiến khu
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ theo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thủ đô Hà Nội chìm trong khói lửa của những ngày đêm quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi thực dân Pháp bội ước quay lại tái chiếm Đông Dương, toàn bộ các cơ quan trung ương của Đảng, Chính phủ, các trường đại học và bệnh viện lớn phải gấp rút tản cư lên chiến khu Việt Bắc để chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kì.
Các gia đình Giáo sư Tôn Thất Tùng, Nguyễn Văn Huyên và Hồ Đắc Di trong kháng chiến năm 1948. Ảnh chụp lại tư trưng bày tại MEDDOM
Đối với một gia đình danh giá quen với nếp sống đô thành, sở hữu dinh thự tiện nghi tại Hà Nội như gia đình Giáo sư Hồ Đắc Di, quyết định rời bỏ tất cả để lên rừng sâu nước độc là một thử thách cực kì khắc nghiệt. Không chỉ cá nhân ông, mà người vợ hiền cùng các con nhỏ cũng phải đối mặt với một cuộc chuyển dời đầy gian nan, nguy hiểm.
Nhiều người quen, bạn bè lúc bấy giờ ái ngại, thậm chí tìm cách khuyên can ông ở lại thành phố dưới sự bảo hộ của y tế thực dân để tiếp tục cuộc sống vinh hoa. Thế nhưng, trước hành động xâm lược trở lại của thực dân Pháp, với lập trường yêu nước sắt đá, Giáo sư Hồ Đắc Di đã không mảy may do dự. Ông cùng người thân gác lại mọi nhung lụa, bước lên những chuyến xe tản cư, cùng đồng bào, bộ đội vượt qua những con đèo dốc hiểm trở để hướng về căn cứ địa Việt Bắc, viết nên chương mới hào hùng cho nền y học kháng chiến.
“
Thưa các bạn! Dịp ấy đây! Hãy chớp lấy thời cơ! Tất cả chúng ta hãy để cho mình được cuốn theo làn gió lớn vĩ đại, làn gió ấy đang dựng dậy cả một dân tộc. Hãy đưa những âm thanh cao vút vào lòng say mê lý tưởng của chúng ta. Hãy nhấn chìm mọi lợi ích cá nhân.
- Giáo sư Hồ Đắc Di (ngày 6/10/1947)
Khoảnh khắc bước chân lên chiến khu cũng là lúc ông cùng các cộng sự đối mặt với những thử thách sinh tử từ phía kẻ thù. Thực dân Pháp từng dùng cả máy bay trinh sát (thường gọi là máy bay bà giá) bay là sát ngọn cây, phát loa gọi tên các trí thức lớn như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng quy hàng để dụ dỗ trở về thành. Thế nhưng, vượt lên trên mọi sự cám dỗ và hiểm nguy cận kề, lập trường của vị giáo sư vẫn vững như bàn thạch.
Bám trụ đại ngàn và bài học y đức sáng ngời thời khói lửa
Lên đến chiến khu Việt Bắc, hiện thực hiện ra trước mắt vị giáo sư danh tiếng là một bức tranh đầy gian khổ và thiếu thốn đến cùng cực. Giữa rừng núi đại ngàn Việt Bắc, không có bệnh viện kiên cố, không có máy X-quang, không có thuốc men dồi dào, thậm chí nước sạch và lương thực hàng ngày cũng vô cùng khan hiếm. Các y bác sĩ phải tự tay dựng những chiếc lán lá qua ngày, tự làm lấy mọi thứ từ bàn mổ bằng gỗ cho đến các dụng cụ tiệt trùng thô sơ.
Ảnh trái: GS Hồ Đắc Di phát biểu tại lễ tổng kết năm học của trường Đại học Y, 1952. Từ trái qua phải: GS Hồ Đắc Di (đứng), Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, GS Tôn Thất Tùng. Ảnh phải: GS Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Y tế (trái) và GS Hồ Đắc Di, Hiệu trưởng Trường đại học Y trong rừng Chiêm Hoá, Tuyên Quang (1947-1954). (Ảnh tư liệu)
Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt và thiếu thốn ấy, tài năng thiên bẩm và đạo đức sáng ngời của Giáo sư Hồ Đắc Di lại càng tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Ông không quản ngại đường sá xa xôi, lội suối băng rừng đi đến các trạm xá tiền phương, các đội điều trị để trực tiếp khám chữa bệnh cho thương bộ đội và đồng bào các dân tộc thiểu số.
Có những ca phẫu thuật đã trở thành huyền thoại trong giới y học chiến khu, tiêu biểu như những ca phẫu thuật ổ bụng, áp-sê gan phức tạp được thực hiện ngay dưới ánh đèn pin chập chờn hoặc ánh nến le lói trong những chiếc lán ngụy trang giữa rừng sâu. Thiếu thốn đủ đường, bằng kinh nghiệm lâm sàng tuyệt vời, tư duy sắc bén và đôi bàn tay vàng ngoại khoa, ông đã cứu sống biết bao nhiêu chiến sĩ, đồng bào thoát khỏi lằn ranh sinh tử.
GS. Hồ Đắc Di tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Ảnh: Tư liệu
“
Nhiệm vụ thiêng liêng và cổ truyền của trường đại học là đào tạo những người có văn hóa và có học thức, nghĩa là những cán bộ kỹ thuật và những con người tự do.
GS. Hồ Đắc Di
Không chỉ trực tiếp chữa bệnh cứu người, ông còn dồn hết tâm huyết và trí tuệ vào việc biên soạn giáo trình, mở các lớp đào tạo cấp tốc y tá, bác sĩ ngay tại chiến khu để kịp thời chi viện nguồn nhân lực y tế chất lượng cho các chiến trường. Trường Đại học Y khoa Hà Nội dưới sự chèo lái của ông đã phải di chuyển qua tổng cộng 13 địa điểm khác nhau trên khắp các vùng rừng núi Việt Bắc để tránh những trận càn quét của giặc, nhưng ngọn lửa tri thức y khoa chưa bao giờ tắt. Những bài giảng của ông về giải phẫu, ngoại khoa được truyền đạt một cách sinh động, gắn liền thực tiễn chiến thương ác liệt, trở thành cẩm nang gối đầu giường cho biết bao thế hệ thầy thuốc quân y và dân y lúc bấy giờ.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.