GS. Trần Hồng Thái: Hợp tác quốc tế phải thành công bằng năng lực tự chủ
GS.TS. Trần Hồng Thái khẳng định hợp tác quốc tế trong giai đoạn mới phải lấy năng lực tự chủ làm thước đo thành công, giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ và tự giải quyết các bài toán phát triển chiến lược của đất nước.

Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga. Chuyến thăm diễn ra đúng vào "Năm Khoa học và Giáo dục Việt – Nga 2026", thời điểm Việt Nam tập trung đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực nội sinh theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg và Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị.
Nhân dịp này, phóng viên Một Thế Giới đã phỏng vấn Uỷ viên TƯ Đảng, GS.TS. Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) về định hướng đưa hợp tác quốc tế chuyển mạnh sang mô hình đồng phát triển và làm chủ công nghệ.
Dấu ấn lịch sử và những tầng giá trị hợp tác nền tảng
- Thưa ông, nhìn lại lịch sử hợp tác lâu dài giữa VAST với các đối tác Nga, đâu là những giá trị và kết quả nổi bật nhất trong việc hình thành tiềm lực khoa học của Việt Nam?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Nếu nhìn lại toàn bộ quá trình hợp tác, tôi cho rằng điều có ý nghĩa nhất là Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay đã có sự đóng góp rất to lớn vào quá trình xây dựng đội ngũ khoa học Việt Nam, hình thành năng lực nghiên cứu trong hầu hết các lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng của Việt Nam.
Quan hệ giữa Viện Khoa học Việt Nam (tiền thân của Viện Hàn lâm ngày nay) với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã được thiết lập từ những năm 1970. Sau năm 1991, quan hệ này tiếp tục được duy trì với Viện Hàn lâm Khoa học Nga và liên tục được nâng cấp. Trong giai đoạn đầu, phía Nga đã hỗ trợ đáng kể trong đào tạo cán bộ, xây dựng phòng thí nghiệm và triển khai các nghiên cứu cơ bản về toán học, cơ học, vật liệu, hóa học, khoa học trái đất, sinh học, sinh thái tài nguyên, công nghệ sinh học và khoa học biển.
- Trong các hướng nghiên cứu truyền thống, hợp tác nghiên cứu biển được đánh giá là một điểm sáng nổi bật về tính bền bỉ và hiệu quả. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về những thành tựu đạt được từ mô hình này?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Một ví dụ điển hình về tính bền bỉ, thực chất và cùng có lợi là hợp tác nghiên cứu biển giữa VAST và Viện Hàn lâm Khoa học Nga, điển hình là Phân viện Viễn Đông. Từ năm 2005 đến năm 2025, hai bên đã thực hiện 9 chuyến khảo sát chung bằng tàu nghiên cứu “Viện sĩ Oparin” trên vùng biển Việt Nam.


Đây không chỉ là các chuyến thu thập mẫu đơn thuần mà đã hình thành một chuỗi nghiên cứu liên tục về đa dạng sinh học, sinh thái và vi sinh vật biển, các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học, hóa học môi trường (vi nhựa và các hợp chất hữu cơ khó phân hủy). Hai bên đã hình thành các nhóm nghiên cứu chung, trao đổi cán bộ, chia sẻ dữ liệu, cùng công bố khoa học và cùng đào tạo. Năm 2025, hai bên đã thống nhất tiếp tục lộ trình hợp tác nghiên cứu biển cho giai đoạn 2026 - 2035, một minh chứng rõ nét cho mô hình hợp tác thực chất.
- Còn đối với lĩnh vực vật lí và năng lượng nguyên tử, sự đồng hành của phía Nga tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân JINR Dubna đã tạo ra những nguồn lực nhân sự chiến lược như thế nào cho Việt Nam?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Việt Nam tham gia Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân JINR Dubna từ năm 1956. Đây là cái nôi đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học đầu ngành về vật lý và năng lượng nguyên tử cho đất nước trước kia và được duy trì đến tận ngày nay.
Hiện tại, đây là môi trường mà các nhà khoa học trẻ Việt Nam có điều kiện làm việc trực tiếp trên những hạ tầng nghiên cứu lớn như NICA, IBR-2, các máy gia tốc và hệ thống nghiên cứu neutron. Số cán bộ Việt Nam hiện làm việc tại JINR là gần 50 người, bao phủ nhiều hướng từ vật lí hạt nhân, neutron, vật liệu bền bức xạ đến y học hạt nhân và thiết kế máy gia tốc. Đây là nguồn nhân lực đặc biệt có giá trị cho chương trình điện hạt nhân và năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình của Việt Nam trong tương lai.
- Như vậy, nếu khái quát lại toàn bộ đóng góp của các đối tác Nga đối với khoa học Việt Nam qua các thời kỳ, ông sẽ đúc kết thành những tầng giá trị nào?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Nếu khái quát đóng góp của các đối tác Nga, tôi cho rằng có thể nhìn ở ba tầng:
Góp phần xây dựng nền tảng khoa học cơ bản và đội ngũ khoa học chủ chốt.
Tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận trường phái khoa học Nga có trình độ và đẳng cấp cao trong nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ chiến lược.
Ngày càng quan trọng hơn: chuyển từ quan hệ hỗ trợ sang quan hệ đối tác bình đẳng, cùng nghiên cứu, cùng đầu tư nguồn lực, cùng tạo ra tri thức và cùng phát triển công nghệ mới.
Giá trị lâu dài nhất chính là năng lực khoa học được tích lũy và tiếp nối qua nhiều thế hệ, để từ nền tảng hợp tác quốc tế, Việt Nam từng bước hình thành năng lực nghiên cứu và công nghệ của chính mình.
Định hướng tự chủ công nghệ và các lĩnh vực ưu tiên
- Trong giai đoạn phát triển mới, hai nước đang đặt ra mục tiêu nâng cao năng lực "tự chủ khoa học và công nghệ". Theo ông, khái niệm "tự chủ" nên được hiểu như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Trước hết cần làm rõ rằng tự chủ khoa học và công nghệ không có nghĩa là tự mình làm tất cả. Trong thế giới khoa học hiện đại, tự chủ phải được hiểu là năng lực của chúng ta trong việc hiểu công nghệ, làm chủ nguyên lí và thiết kế, tích hợp hệ thống, vận hành, bảo trì, cải tiến công nghệ và đặc biệt là đào tạo được thế hệ chuyên gia kế tiếp.

- Dựa trên tinh thần đó và bám sát các định hướng chiến lược quốc gia, đâu là những lĩnh vực cụ thể mà Nga có thế mạnh vượt trội và Việt Nam có nhu cầu cấp thiết để cùng hợp tác phát triển?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Cần tập trung vào một số lĩnh vực có mức độ giao thoa cao với Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược (ban hành theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026) và Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 08/08/2026:
Vật lí hạt nhân và năng lượng nguyên tử: Nga có hệ sinh thái rất mạnh từ nghiên cứu cơ bản, máy gia tốc, neutron, vật liệu bền bức xạ đến đào tạo kỹ sư. Hợp tác với JINR, ROSATOM cần gắn trực tiếp với việc chuẩn bị nhân lực cho Trung tâm Nghiên cứu KHCN hạt nhân và các nhu cầu dài hạn.
Năng lượng mới & Hệ thống năng lượng tiên tiến (Hydrogen, lưu trữ, lưới điện thông minh, tích hợp NLTT): VAST và Đại học Nghiên cứu Quốc gia “Viện Năng lượng Moscow” (MPEI) đang xây dựng lộ trình hợp tác. Mục tiêu với hydrogen là nắm từ vật liệu điện cực, điện phân, tinh sạch, lưu trữ, cảm biến đến pin nhiên liệu.
Công nghệ lượng tử & Công nghệ số nền tảng: Nga có hệ sinh thái nghiên cứu lượng tử khá hoàn chỉnh (ROSATOM đang triển khai lộ trình điện toán lượng tử đến 2030). Việt Nam chọn cách đi phù hợp: dựa vào thế mạnh Toán, Lí, Hóa, Vật liệu để nghiên cứu mô phỏng, thuật toán lượng tử, mật mã hậu lượng tử, truyền thông lượng tử và tiếp cận hạ tầng tính toán từ xa của Nga. Việt Nam có thể sớm trở thành điểm kết nối chiến lược về lượng tử giữa khu vực châu Á và thế giới.
Công nghệ vũ trụ, Vệ tinh nhỏ, Viễn thám, UAV & Hệ thống tự hành: Phục vụ giám sát tài nguyên, môi trường, thiên tai, nông nghiệp, biển và hạ tầng. Định hướng triển khai theo dự án thử nghiệm nhỏ - đánh giá độc lập – nội địa hóa – nhân rộng.
Công nghệ vật liệu tiên tiến: Là nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa (cụ thể hóa theo Kết luận số 83-KL/TW ngày 08/08/2026), khai thác đúng thế mạnh nghiên cứu của Nga và nguồn tài nguyên, nhu cầu của Việt Nam.
- Để hiện thực hóa các hướng hợp tác này một cách hiệu quả, mô hình hợp tác giữa hai bên cần có sự thay đổi ra sao so với trước đây?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Phải chuyển mạnh từ mô hình “trao đổi cán bộ - hội thảo khoa học - đề tài nghiên cứu” sang mô hình đồng phát triển công nghệ. Tôi đặc biệt coi trọng bốn yếu tố:
Xây dựng các phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung đặt tại Việt Nam.
Triển khai các chương trình đồng tài trợ dài hạn gắn với một bài toán công nghệ cụ thể.
Đào tạo chuyên gia theo mô hình “train-the-trainer” (đào tạo nhân sự cốt lõi để họ tiếp tục đào tạo đội ngũ trong nước).
Đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn R&D để hình thành chuỗi: Nghiên cứu - Nguyên mẫu - Thử nghiệm - Sản xuất - Thương mại hóa.
Ngay từ khi thiết kế chương trình cần xác định rõ phần việc phía Việt Nam phải làm chủ, cơ chế chia sẻ dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ và mốc đánh giá năng lực. Chuyển giao công nghệ phải là chuyển giao năng lực làm chủ công nghệ. Nếu sau dự án chỉ có thêm thiết bị mà không có đội ngũ hiểu, sửa đổi và phát triển thế hệ tiếp theo thì chưa thể gọi là thành công.
Đột phá từ hợp tác quốc tế để giải quyết các bài toán đất nước
- Năm 2026 đánh dấu "Năm Khoa học và Giáo dục Việt Nam - Liên bang Nga". VAST sẽ tận dụng thời cơ này như thế nào để chuyển hóa tiềm lực hợp tác thành các giải pháp cho bài toán phát triển quốc gia?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Năm Khoa học và Giáo dục 2026 (đã được phía Nga xác nhận ở cấp Chính phủ và Bộ Khoa học & Giáo dục Đại học) tạo khuôn khổ thuận lợi để chuyển từ hợp tác riêng lẻ sang các chương trình chiến lược. Chúng tôi sẽ chuyển mạnh cách tiếp cận từ “hợp tác theo đối tác” sang “hợp tác theo bài toán”.

Trước hết là xác định các bài toán lớn: an ninh năng lượng; công nghệ hạt nhân hòa bình; quan trắc biển và môi trường; ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu; vật liệu mới; công nghệ lượng tử; công nghệ vũ trụ, UAV; công nghệ sinh học và y sinh. Sau đó chọn đúng đối tác Nga mạnh nhất cho từng khâu: Viện Hàn lâm Nga (nghiên cứu cơ bản), JINR (vật lí hạt nhân, neutron), ROSATOM (hạt nhân, lượng tử), MPEI (năng lượng), các doanh nghiệp công nghệ Nga (đưa AI, UAV, hydrogen ra thực địa). Từ đó tạo chuỗi liên thông từ khoa học cơ bản đến ứng dụng.
- Phương thức tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm trong thời gian tới sẽ được triển khai cụ thể ra sao để tránh tình trạng dàn trải, thưa ông?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Viện Hàn lâm sẽ ưu tiên xây dựng các nhiệm vụ hợp tác chiến lược tiên phong (“flagship”) có thời hạn đủ dài, thay vì phân tán vào các đề tài nhỏ. Mỗi nhiệm vụ phải có đầu ra kiểm chứng được: một công nghệ làm chủ, một nguyên mẫu/hệ thống pilot, một CSDL quốc gia, một phòng thí nghiệm chung, hoặc một nhóm chuyên gia đủ năng lực tiếp tục phát triển.
Đồng thời, tăng cường cơ chế điều phối liên ngành, kết nối viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan sử dụng kết quả. Mỗi chương trình đều có đầu mối chịu trách nhiệm, lộ trình công nghệ và bộ tiêu chí đánh giá ngay từ đầu để đảm bảo kết quả có địa chỉ ứng dụng rõ ràng.
- Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực trẻ - yếu tố then chốt nhất của sự phát triển bền vững - sẽ được lồng ghép như thế nào trong các chương trình flagship này?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Mỗi chương trình hợp tác lớn bắt buộc phải gắn với đào tạo tiến sĩ, sau tiến sĩ, kỹ sư và cán bộ trẻ; đồng hướng dẫn giữa hai nước; bố trí cán bộ Việt Nam làm việc thực chất tại các phòng thí nghiệm Nga, đồng thời đưa chuyên gia Nga sang Việt Nam làm việc đủ dài.
Điều chúng tôi hướng tới không phải là "đào tạo một người Việt Nam biết sử dụng một công nghệ của Nga", mà là "hình thành một nhóm khoa học Việt Nam có khả năng tiếp tục phát triển công nghệ đó tại Việt Nam". Đây là điểm khác biệt căn bản.
- Thưa ông, thước đo cho sự thành công của giai đoạn hợp tác mới này sẽ dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào?
GS.TS. Trần Hồng Thái: Hiệu quả hợp tác phải được đánh giá bằng kết quả và tác động thực tế, chứ không chỉ bằng số biên bản ghi nhớ hay cuộc hội thảo.
Chúng tôi sẽ đo lường bằng: số chuyên gia Việt Nam thực sự làm chủ công nghệ; số công nghệ/quy trình/nguyên mẫu được hình thành; mức độ nội địa hóa; bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ chung; dữ liệu khoa học được xây dựng; công nghệ được doanh nghiệp, địa phương ứng dụng; và quan trọng nhất là khả năng của đội ngũ Việt Nam tiếp tục tự phát triển sau khi chương trình kết thúc.
Mục tiêu cuối cùng rất rõ ràng: biến hợp tác quốc tế thành một phương thức nâng cao nội lực khoa học công nghệ quốc gia; biến tri thức chung thành năng lực của các nhà khoa học Việt Nam; và biến kết quả nghiên cứu thành những lời giải cụ thể cho các bài toán phát triển của đất nước.
Xin cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái về cuộc trao đổi rất sâu sắc này!
.jpg)