GS.TS Nguyễn Đức Thuận: Siêu đô thị không thể chỉ là phép cộng của ba địa phương
Tại Diễn đàn “Siêu đô thị, siêu cơ hội” do Tạp chí điện tử Nhà Quản Trị – TheLEADER, cơ quan báo chí của Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD) tổ chức ngày 25/8, GS.TS Nguyễn Đức Thuận - Chủ tịch Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD), nhìn nhận TP.HCM đang đứng trước một bước ngoặt mang tính chiến lược.
Quy mô mới, bài toán mới
Việc tích hợp không gian phát triển giữa TP.HCM với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tạo ra một không gian rộng khoảng 6.700 km², với hơn 14 triệu dân.

Đáng chú ý hơn, không gian này hội tụ nhiều lợi thế mà trước đây nằm ở những địa bàn khác nhau: công nghiệp và sản xuất công nghệ cao, cảng biển nước sâu, logistics quốc tế, tài chính - dịch vụ và nguồn nhân lực.
Theo GS.TS Nguyễn Đức Thuận, đây là nền tảng quan trọng để TP.HCM trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực phía Nam và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh với các đô thị lớn ở châu Á.
Nhưng quy mô lớn không đồng nghĩa với một siêu đô thị. “Siêu đô thị không được tạo nên chỉ bằng việc ghép ba địa phương thành một không gian lớn hơn”, ông nhấn mạnh.

Điểm quyết định nằm ở khả năng kết nối các nguồn lực thành một chỉnh thể. Nếu các khu vực vẫn phát triển theo những quỹ đạo riêng, hạ tầng thiếu liên thông, các cực kinh tế cạnh tranh hoặc vận hành phân mảnh, lợi thế về quy mô có thể trở thành áp lực.
Ngược lại, nếu các nguồn lực được tổ chức thành một hệ sinh thái liên kết, giá trị tạo ra có thể vượt xa tổng giá trị của từng thành phần. Đây là sự khác biệt giữa một đô thị lớn về diện tích, dân số với một siêu đô thị có sức cạnh tranh thực chất.
Cùng với không gian phát triển mới là yêu cầu thay đổi phương thức quản trị. Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định mục tiêu đến năm 2045 xây dựng TP.HCM trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á; đến năm 2075 trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại.
Theo GS.TS Nguyễn Đức Thuận, đây không đơn thuần là những mục tiêu về quy mô kinh tế. Đằng sau đó là yêu cầu thay đổi tư duy phát triển.
TP.HCM cần chuyển từ tư duy “đô thị lớn” sang tư duy “siêu đô thị toàn cầu”; từ quản lí hành chính sang quản trị phát triển; từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đất đai và lao động sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và chất lượng sống.
Trong tiến trình này, Luật Phát triển đô thị và các chính sách mới được kỳ vọng mở thêm không gian thể chế cho thành phố.
Hạ tầng kiến tạo không gian, quy hoạch kiến tạo giá trị
Một trong những điểm được GS.TS Nguyễn Đức Thuận nhấn mạnh là vai trò của quy hoạch TP.HCM giai đoạn 2025-2050, tầm nhìn 100 năm.
.jpg)
Theo ông, quy hoạch phải được nhìn như thiết kế quỹ đạo phát triển của thành phố. Đó là cách xác lập cấu trúc kinh tế, mạng lưới hạ tầng, các cực tăng trưởng và dòng lưu chuyển của con người, hàng hóa, tri thức và vốn trong nhiều thập niên. “Tầm nhìn 100 năm đòi hỏi chúng ta phải vượt ra khỏi tư duy nhiệm kỳ và chu kỳ thị trường ngắn hạn”, ông nói.
Từ cách nhìn này, GS.TS Nguyễn Đức Thuận cho rằng TP.HCM cần giải quyết ba bài toán lớn: tổ chức không gian đa cực, đa trung tâm; phát triển đô thị dựa trên hạ tầng; quản trị thông minh và thích ứng bền vững.
Một siêu đô thị không thể tiếp tục vận hành theo mô hình “một trung tâm - nhiều vùng ven”. Các trung tâm tài chính, công nghiệp, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển và du lịch cần được xác định rõ vai trò, đồng thời được kết nối để tạo cộng hưởng.
Hạ tầng cũng phải được nhìn như công cụ tổ chức lại không gian. Metro, đường vành đai, cao tốc, cảng biển, sân bay tạo thành hệ tuần hoàn của đô thị. Song, theo ông, xây dựng hạ tầng mới chỉ là điều kiện cần.
Điều kiện đủ là phát triển đô thị xoay quanh hạ tầng. Với mô hình TOD, các nhà ga và đầu mối giao thông có thể trở thành những trung tâm tích hợp nhà ở, việc làm, thương mại, dịch vụ và không gian công cộng. “Hạ tầng không chỉ phục vụ đô thị; hạ tầng kiến tạo nên đô thị”, ông nhận định.

Cùng với đó là yêu cầu về một phương thức quản trị có khả năng dự báo và thích ứng. Một siêu đô thị phải đủ sức chống chịu trước biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và các biến động toàn cầu.
Khi các tuyến metro hình thành, những trung tâm thương mại và không gian đô thị mới có thể xuất hiện. Khi vành đai, cao tốc được kết nối, các hành lang công nghiệp - logistics sẽ mở rộng. Khi những cực đổi mới sáng tạo hình thành, thị trường lao động và hệ sinh thái doanh nghiệp cũng dịch chuyển.
Theo GS.TS Nguyễn Đức Thuận, chính những chuyển động đó tạo nên “siêu cơ hội”. Tuy nhiên, ông lưu ý không nên nhìn “siêu cơ hội” qua những cơn sốt đất hoặc chu kỳ đầu cơ ngắn hạn. Cơ hội thực chất nằm ở sự dịch chuyển của dòng vốn, tri thức, hạ tầng, việc làm và các trung tâm tạo giá trị.
Doanh nghiệp vì thế cần nâng cao năng lực đọc quy hoạch, hiểu mối quan hệ giữa hạ tầng, dân cư, việc làm và các cực kinh tế. Nhà đầu tư cũng cần thay đổi câu hỏi từ “đâu là điểm nóng hôm nay?” sang “đâu sẽ là trung tâm tạo giá trị của ngày mai?”.
Cơ hội trong một siêu đô thị vì vậy sẽ không chia đều. Nó thuộc về những doanh nghiệp nhìn thấy sự dịch chuyển trước khi trở thành xu hướng và những nhà đầu tư nhận ra giá trị trước khi thị trường gọi tên giá trị đó.
Nhưng trách nhiệm kiến tạo không thể đặt lên một phía. Theo GS.TS Nguyễn Đức Thuận, doanh nghiệp phải trở thành một chủ thể của quá trình phát triển. Họ tạo việc làm, hình thành các trung tâm kinh tế mới, phát triển hạ tầng, dịch vụ và biến định hướng quy hoạch thành những giá trị cụ thể.
“Siêu đô thị không chỉ được xây dựng bằng chính sách hay ngân sách công; siêu đô thị được kiến tạo bởi sự đồng hành giữa Nhà nước, chuyên gia, doanh nghiệp và toàn xã hội”, ông nói.
Vì vậy, thước đo của TP.HCM trong giai đoạn mới không nằm ở việc thành phố lớn thêm bao nhiêu về diện tích hay dân số. Câu hỏi quan trọng hơn là liệu không gian mới có tạo ra một cấu trúc phát triển hiệu quả hơn, một nền kinh tế có sức cạnh tranh hơn và một chất lượng sống tốt hơn hay không. Đó cũng là ranh giới giữa một đô thị có quy mô lớn hơn và một siêu đô thị thực sự.



