-
23/10/2026 12:30 Hội thảo OpenAP 2026 kết thúc phiên sáng
Chiều nay 23/10, hội thảo sẽ tiếp tục với các phiên song song, chia thành ba nhóm chủ đề. Nhóm thứ nhất bàn về tài nguyên giáo dục mở, tiếp cận tri thức và cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Nhóm thứ hai tập trung vào sư phạm mở, thiết kế học tập và sự tham gia hòa nhập. Nhóm thứ ba xoay quanh AI có trách nhiệm, chính sách, lãnh đạo và chuyển đổi thể chế.

Các đại biểu, diễn giả, khách mời chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: Hà Tuấn Mời độc giả theo dõi Một Thế Giới để tiếp tục cập nhật các nội dung trong các phiên hội thảo chiều nay.
-
23/10/2026 12:15 TS Trương Ngọc Tường Vi: Lộ trình đưa tài nguyên giáo dục mở vào giảng đường Việt Nam
TS Trương Ngọc Tường Vi, giảng viên Đại học Melbourne (Australia), Trưởng Mạng lưới Go Global Châu Á - Thái Bình Dương (Go Global Asia Pacific Hub) - mang đến bài tham luận ấn tượng với chủ đề: "Gần hơn với thực tiễn: Tập trung phát triển Giáo dục Mở tại Việt Nam và các bước đi thực tế để đưa chính sách vào cuộc sống".

Tiến sĩ Trương Ngọc Tường Vi, giảng viên Đại học Melbourne (Australia), Trưởng Mạng lưới Go Global Châu Á - Thái Bình Dương. Ảnh: Hà Tuấn Bài trình bày không chỉ điểm lại những cột mốc quan trọng của hành trình thể chế hóa Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tại Việt Nam mà còn thẳng thắn chỉ ra những bài toán thực thi cấp bách mà các trường đại học đang phải đối mặt.
Bước ngoặt thể chế và những mục tiêu tham vọng
Mở đầu bài phát biểu, TS Trương Ngọc Tường Vi nhấn mạnh Việt Nam đã đi qua một "ngưỡng cửa chính sách" mang tính lịch sử. Đây không phải là kết quả sau một đêm mà là thành quả tích tụ qua nhiều thập kỷ, khởi đầu từ các sáng kiến tự phát như Hệ tri thức mở Việt Nam (VOER) hay các kho học liệu nội bộ từ những năm 2000, cho đến các hướng dẫn ngành năm 2019 và cột mốc quan trọng là Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Đặc biệt, sự ra đời của Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (có hiệu lực từ ngày 1/9/2026) đã chính thức đánh dấu bước chuyển mình quan trọng: OER từ một phong trào tự nguyện trở thành trách nhiệm mang tính tổ chức.
Thông tư 61 quy định rõ các trường đại học bắt buộc phải xây dựng hạ tầng nền tảng kết nối với Cổng thông tin quốc gia, củng cố năng lực hệ thống thư viện, ban hành cơ chế quản trị và xem xét công nhận việc phát triển OER là một phần của sản phẩm nghiên cứu, giảng dạy khoa học.
TS. Tường Vi nhắc lại các mục tiêu trọng tâm đến năm 2030 mà Việt Nam đã đề ra:
Trên 60% các cơ sở giáo dục đại học tham gia xây dựng và đóng góp OER.
Trên 40% các ngành đào tạo có học liệu mở.
Xây dựng tối thiểu 600 học liệu mở chất lượng cao ở cấp độ quốc gia.
Trên 75% giảng viên và người học chủ động khai thác, sử dụng OER.
Hai kịch bản tương lai: Đối phó hay thực chất?
Mặc dù khung pháp lý đã định hình rõ ràng, TS. Tường Vi cho rằng "chính sách không tự quyết định kết quả". Cùng một quy định, thực tế triển khai tại các trường đại học có thể rẽ theo hai kịch bản hoàn toàn trái ngược:
.jpg)
TS. Trương Ngọc Tường Vi nhấn mạnh Việt Nam đã đi qua một "ngưỡng cửa chính sách" mang tính lịch sử. Ảnh: Hà Tuấn Kịch bản "Thụ động đối phó": Các trường tập trung tải tài nguyên lên hệ thống, đếm số lượng học liệu để làm báo cáo thành tích. Kết quả là các chỉ tiêu kỹ thuật được hoàn thành, kho lưu trữ đầy ắp dữ liệu, nhưng phương pháp giảng dạy trên lớp vẫn dậm chân tại chỗ.
Kịch bản "Thực hành chuyển đổi": Học liệu được người dạy khai thác, chủ động điều chỉnh, bản địa hóa và chia sẻ lại. Diễn giả đưa ra ví dụ minh họa: Một giảng viên lấy một chương sách giáo khoa mở của quốc tế, thay thế các bài tập bằng bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam, thiết kế thêm hoạt động tương tác và chia sẻ lại bản nâng cấp đó cho đồng nghiệp.
"Tin mừng là Quyết định 1117/QĐ-TTg đã nhấn mạnh vào yếu tố 'sử dụng' thay vì chỉ tính khối lượng 'tải lên'. Tuy nhiên, câu hỏi cốt lõi mà chúng ta phải tự trả lời hôm nay là: Điều gì mới thực sự được công nhận là 'sử dụng'?" – TS. Tường Vi nhấn mạnh.
Hệ sinh thái OER và Mô hình Năng lực 3 Tầng
Để OER đi vào đời sống học thuật, TS. Tường Vi phác thảo mô hình hệ sinh thái gồm 4 trụ cột tương hỗ: Chính sách (tạo tính pháp lý), Cơ sở giáo dục (tạo nền tảng vận hành), Con người (phát triển năng lực), và Cộng đồng chuyên môn (tạo không gian chia sẻ, nâng đỡ). Trong đó, yếu tố con người giữ vai trò trung tâm thông qua Mô hình Năng lực 3 Tầng:
Tầng 1 (Năng lực tiếp cận): Giảng viên và người học có nhận thức về OER, kỹ năng tìm kiếm số, am hiểu về bản quyền, giấy phép mở (Creative Commons) và có năng lực ngoại ngữ cơ bản để khai thác nguồn tin quốc tế.
Tầng 2 (Năng lực sáng tạo & Chuyển thể): Giảng viên không chỉ dừng lại ở vai trò người đọc mà trở thành người sáng tạo. Họ biết cách ứng dụng giấy phép mở cho sản phẩm của mình, nhào nặn (remix), biên soạn lại học liệu cho phù hợp với đề cương môn học.
Tầng 3 (Năng lực bản địa hóa sâu): Đây là mức độ phức tạp nhất. TS. Tường Vi phân biệt rõ: "Dịch thuật chỉ đơn thuần thay đổi ngôn ngữ, nhưng Bản địa hóa (Localization) mới tạo ra tính tương thích và giá trị thực tiễn".
Đi sâu vào bài toán bản địa hóa, diễn giả dẫn chứng: Một video bài giảng về Kinh tế học đại cương từ Mỹ nếu muốn dùng hiệu quả tại Việt Nam không thể chỉ lồng tiếng hay phụ đề, mà bắt buộc phải thay thế bằng các chỉ số thị trường lao động, thể chế pháp lý và các case-study doanh nghiệp trong nước.
Đáng chú ý, Thông tư 61 cũng ưu tiên phát triển học liệu bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số. Mặc dù Trí tuệ nhân tạo (AI) hay các công cụ dịch máy giúp tăng tốc đáng kể khâu dịch thuật, nhưng TS. Tường Vi khẳng định AI không thể thay thế được chuyên môn sâu, sự am hiểu văn hóa và tư duy sư phạm của người thầy.
Vai trò của Lãnh đạo và Cộng đồng Chuyên môn
Bài tham luận cũng chỉ ra "điểm nghẽn" thực tế: Mặc dù Thông tư 61 cho phép công nhận OER là sản phẩm khoa học, nhưng việc quy đổi này mang tính khuyến khích chứ chưa bắt buộc. Do đó, quyết định của ban giám hiệu các trường đại học đóng vai trò then chốt.
Lãnh đạo nhà trường cần hiện thực hóa sự hỗ trợ bằng các công cụ quản trị cụ thể:
Quy đổi việc biên soạn OER vào định mức giờ chuẩn giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Cấp kinh phí đầu tư ban đầu cho các dự án phát triển học liệu mở.
Đưa tiêu chí OER vào hệ thống xét duyệt thi đua, khen thưởng và thăng tiến nghề nghiệp.
Huy động sự tham gia tích cực của thư viện đại học và đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật giảng dạy.
Bên cạnh nỗ lực nội bộ của từng trường, TS. Tường Vi nhấn mạnh tầm quan trọng của các mạng lưới kết nối liên trường và liên quốc gia. Các tổ chức như Mạng lưới Go Global Châu Á - Thái Bình Dương, Nhóm Giáo dục Mở Việt Nam, hay các mạng lưới quốc tế như OE Global, SEAMEO chính là nơi cung cấp sự đồng hành, tư vấn chuyên môn (mentorship) và chia sẻ nguồn lực – những yếu tố mà chính sách hành chính khó có thể bao quát hết.
5 ưu tiên hành động cho giai đoạn đến năm 2027
Khép lại bài trình bày, TS. Trương Ngọc Tường Vi đề xuất 5 khuyến nghị chiến lược để các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam chuyển hóa chính sách thành hành động thiết thực:
Xây dựng lộ trình năng lực phân vai: Thiết kế các chương trình tập huấn ngắn hạn cho giảng viên và thủ thư, đi từ bước nhận thức, khai thác đến kỹ năng chuyển thể và sáng tạo.
Ghi nhận thi đua thực chất: Đưa công sức biên soạn, bản địa hóa OER vào hệ thống tính giờ chuẩn và xét thăng tiến chuyên môn.
Đầu tư cho Tri thức Việt: Ưu tiên ngân sách cho các dự án phát triển học liệu bằng tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, gắn liền với thực tiễn kinh tế - xã hội đất nước.
Hoàn thiện hạ tầng và quy trình quản trị: Củng cố vai trò của thư viện trung tâm, xây dựng quy trình kiểm định chất lượng học liệu mở trước khi công bố.
Thúc đẩy liên kết cộng đồng: Khuyến khích giảng viên tham gia các mạng lưới chuyên môn trong và ngoài nước để hợp tác biên soạn và học hỏi kinh nghiệm.
Chính sách đã mở ra cánh cửa rộng lớn, nhưng bước qua cánh cửa đó hay không phụ thuộc vào chính chúng ta. Sự có mặt của đông đảo đại biểu, chuyên gia và các nhà quản lý tại Open AP 2026 hôm nay chính là lời khẳng định cho cam kết đưa Giáo dục Mở tại Việt Nam phát triển thực chất và bền vững.
- TS. Trương Ngọc Tường Vi
-
23/10/2026 12:05 TS Rebecca Pitt: Hỗ trợ sáng kiến giáo dục mở từ mạng lưới đào tạo sau đại học mở toàn cầu
Mở rộng mạng lưới trung tâm khu vực
Tại Hội thảo, TS Rebecca Pitt, Đại học Mở, Vương quốc Anh, Đồng Giám đốc Mạng lưới Sau đại học OER Toàn cầu (GO-GN) đã trình bày về các cơ chế hỗ trợ sáng kiến mở thông qua mạng lưới đào tạo sau đại học mở trên phạm vi thế giới.
Mạng lưới được thành lập vào năm 2013 do một giáo sư thuộc Trường Đại học Mở Hà Lan khởi xướng. Kể từ thời điểm thành lập, tổ chức duy trì định hướng dẫn dắt nhằm thúc đẩy sự phát triển của giáo dục mở toàn cầu, tập trung vào ba trụ cột cốt lõi: hợp tác liên kết, tính bao trùm và sự phát triển bền vững.

TS Rebecca Pitt, Đại học Mở, Vương quốc Anh, Đồng Giám đốc Mạng lưới Sau đại học OER Toàn cầu (GO-GN). Ảnh: Hà Tuấn Sứ mệnh chính của mạng lưới là hỗ trợ các nghiên cứu sinh trong lĩnh vực giáo dục mở; gia tăng tính nhận diện cho các hồ sơ nghiên cứu; thúc đẩy sự công bằng, bao trùm; đồng thời nhấn mạnh việc thực hành nghiên cứu mở như một thành tố thiết yếu trong hoạt động học thuật.
Đến nay, mạng lưới đã quy tụ 221 thành viên là các nghiên cứu sinh và cựu học viên đến từ 31 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, tổ chức còn xây dựng được cộng đồng học giả thực hành rộng lớn với hơn 350 chuyên gia và nhà nghiên cứu.
Đáng chú ý, khoảng một phần ba số lượng thành viên thuộc về khu vực Phương Nam toàn cầu (các quốc gia đang phát triển). Trong suốt một thập kỷ qua, tỷ lệ thành viên tham gia gia tăng đều đặn, phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của cộng đồng quốc tế đối với lĩnh vực giáo dục mở.
Mạng lưới khẳng định tinh thần rộng mở, sẵn sàng chào đón sự tham gia của các giảng viên hướng dẫn, học viên cao học và nghiên cứu sinh quan tâm đến việc thúc đẩy thực hành và nghiên cứu giáo dục mở trong thời gian tới.
Nhằm nâng cao năng lực học thuật và lan tỏa tri thức, Mạng lưới Đào tạo Sau đại học Mở Toàn cầu (GO-GN) triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ thiết thực cho cộng đồng nhà nghiên cứu. Tổ chức tạo dựng không gian kết nối để các nghiên cứu sinh chia sẻ kết quả khoa học; đồng thời phối hợp cùng các đối tác quốc tế tổ chức các sự kiện chuyên ngành quy mô như Hội thảo Giáo dục Mở Toàn cầu (Open Education Global).
Bên cạnh đó, mạng lưới tích cực cung cấp học bổng, tài trợ kinh phí nghiên cứu và thúc đẩy các hoạt động xuất bản chung.
Những nỗ lực này đã mang lại tác động học thuật sâu rộng trên phạm vi toàn cầu. Tính đến nay, các công trình nghiên cứu do thành viên mạng lưới thực hiện đã đạt tổng cộng hơn 80.000 lượt trích dẫn, khẳng định đóng góp quan trọng của tổ chức trong việc thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu giáo dục mở.
Thông qua chính sách công bố mở, mạng lưới khuyến khích toàn thể thành viên, từ học viên đến các chuyên gia, hợp tác triển khai các đề tài liên ngành.
Sự kết hợp giữa các góc nhìn đa dạng và kinh nghiệm phong phú từ nhiều bối cảnh quốc gia khác nhau đã tạo nên nền tảng tri thức phong phú. Ngoài ra, tổ chức còn phát triển các bộ học liệu dùng chung, bao gồm tài liệu hướng dẫn nghiên cứu chuẩn hóa dành cho nghiên cứu sinh trên toàn thế giới.
Đáng chú ý, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập vào năm 2023 tại Canada, mạng lưới đã ghi nhận ý kiến đóng góp từ các thành viên để định hình chiến lược phát triển tương lai.
Trên cơ sở nguồn tài trợ từ Quỹ William and Flora Hewlett, tổ chức đang từng bước chuyển đổi sang cơ chế quản trị phân quyền (phi tập trung). Mô hình mạng lưới liên bang mới này hướng tới việc gia tăng tính chủ động cho các thành viên, tối ưu hóa nguồn lực và đáp ứng hiệu quả hơn các ưu tiên nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo.
Mở rộng mạng lưới trung tâm khu vực và thực thi nguyên tắc hợp tác bao trùm
Để hiện thực hóa nguyện vọng của các thành viên, Mạng lưới GO-GN đã tiến hành thành lập chuỗi trung tâm kết nối khu vực tại nhiều quốc gia và châu lục, bao gồm Canada, Mỹ, Kenya và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Trong đó, Việt Nam đóng vai trò là một mắt xích quan trọng thuộc mạng lưới Châu Á - Thái Bình Dương, với sự đóng góp tích cực từ Tiến sĩ Vi cùng các cộng sự trong quá trình xây dựng và phát triển tổ chức.
Xác định hợp tác là chìa khóa cốt lõi trong mọi hoạt động, GO-GN chủ động tạo dựng các không gian kết nối đa chiều thông qua việc tổ chức hội thảo chuyên đề, vận hành các điểm trao đổi tri thức khu vực và thúc đẩy các công trình xuất bản chung. Nguyên tắc xuyên suốt của tổ chức là luôn lắng nghe, thấu hiểu và đặt nhu cầu thực tế của thành viên làm trọng tâm thiết kế chương trình.

TS Rebecca Pitt nhấn mạnh việc thực hành nghiên cứu mở như một thành tố thiết yếu trong hoạt động học thuật. Ảnh: Hà Tuấn Hướng tới mô hình đồng kiến tạo, GO-GN gia tăng các sự kiện phối hợp tổ chức và phát triển những sản phẩm khoa học do chính các thành viên cùng thực hiện. Hằng năm, mạng lưới đều tiến hành đánh giá toàn diện hoạt động để xác định các ưu tiên chiến lược cho giai đoạn tiếp theo.
Đặc biệt, GO-GN coi "tính mở" là một thực hành bao trùm. Mạng lưới cam kết tôn trọng sự đa dạng về góc nhìn, đặc biệt chú trọng lắng nghe và đại diện cho tiếng nói của các nhà nghiên cứu đến từ những vùng lãnh thổ chưa được quan tâm đúng mức, từ đó lan tỏa mạnh mẽ tinh thần chủ động tham gia của cộng đồng học thuật trên toàn thế giới.
Xuất phát từ đặc thù lực lượng nòng cốt là các nghiên cứu sinh, đối tượng luôn cần sự đồng hành và hỗ trợ chuyên môn, GO-GN duy trì chính sách tham gia linh hoạt và cởi mở nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu, điều kiện của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Bên cạnh đó, mạng lưới xác định tính bao trùm là chìa khóa then chốt để đạt được sự phát triển bền vững, hướng tới việc xây dựng tầm nhìn và nhận thức chung trong toàn cộng đồng.
Thông qua 4 trạm kết nối khu vực đã được thiết lập, GO-GN không chỉ mở rộng cơ hội hợp tác liên kết mà còn chú trọng tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho các thành viên.

Đứng trước những chuyển dịch sâu sắc của bối cảnh giáo dục toàn cầu, GO-GN cho biết đã đảm bảo nguồn kinh phí vận hành cho hai năm tiếp theo. Trong giai đoạn mới, chiến lược trọng tâm của tổ chức là xây dựng mô hình "mạng lưới của các mạng lưới". Thông qua các trạm khu vực, GO-GN kỳ vọng sẽ nhân rộng phạm vi ảnh hưởng, gia tăng kết nối và tiếp tục lan tỏa các giá trị của giáo dục mở.
Đại diện GO-GN gửi lời mời trân trọng và nồng nhiệt chào đón các nghiên cứu sinh, học giả cũng như các chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực giáo dục mở trên toàn thế giới đăng ký tham gia, góp phần mở rộng không gian hợp tác học thuật trong thời gian tới.

-
23/10/2026 11:40 GS Robert Farrow: Phải bảo đảm việc dùng công nghệ nhất quán với các giá trị của giáo dục mở
GS Robert Farrow, Viện Công nghệ Giáo dục, Đại học Mở (Anh), cho rằng cần thận trọng với những gì đang làm với AI. Theo ông, giáo dục mở có lịch sử hàng trăm năm. Công nghệ mới nào cũng mang đến cơ hội lẫn thách thức, nên phải bảo đảm việc dùng công nghệ nhất quán với các giá trị của giáo dục mở.
Ông nhắc Tuyên bố Dubai về tài nguyên giáo dục mở, văn kiện hình dung AI và giáo dục mở kết hợp trong một hệ sinh thái nhất quán. Theo ông, nhiều người đang hào hứng với việc dùng ChatGPT để tạo tài nguyên giáo dục mở. Ông không cho đó là sai, nhưng cần làm cẩn trọng.
Vai trò của con người
AI là công cụ của con người, không được trở thành thứ định đoạt cách dạy, cách tạo và chia sẻ học liệu. Ông lưu ý “AI” không phải một thứ duy nhất, mà gồm nhiều công nghệ thay đổi rất nhanh, khó theo kịp.

GS Robert Farrow, Viện Công nghệ Giáo dục, Đại học Mở (Anh) trình bày tại hội thảo. Ảnh: Hà Tuấn Giấy phép mở và nguồn gốc nội dung
Theo ông, khung pháp lí cho AI vẫn đang hình thành chậm. Quan điểm lạc quan cho rằng chỉ cần đưa nội dung qua AI tạo sinh là có thể chia sẻ như tài sản công. Ông đặt câu hỏi giấy phép mở còn vai trò gì, vì trong giáo dục mở, giấy phép giúp ghi nhận đóng góp và truy nguyên nguồn gốc. Nếu coi mọi thứ là tài sản công thì có thể mất đi giá trị đó.
Ông dẫn một bài viết gần đây của Creative Commons về nhu cầu giữ lại ghi nhận tác giả và nguồn gốc ý tưởng. Theo ông, hiện AI chưa cho biết chính xác nội dung đến từ đâu. Một số tác giả không muốn tác phẩm bị dùng để huấn luyện AI, nhưng chưa có cơ chế ngăn việc này và cũng khó chứng minh. Các tín hiệu “không dùng để huấn luyện” gắn vào tác phẩm không thể ngăn được việc thu thập. Ông cho rằng khung pháp lí và đạo đức có thể còn cần được hài hòa.
Thế nào là “mở”?
Ông cho rằng không có định nghĩa cuối cùng về tính mở, vì mở thì phải để ngỏ khả năng thay đổi, và mỗi nước có truyền thống riêng. Các công ty AI thường tự nhận là “mở” nhưng không cùng nghĩa với cộng đồng giáo dục mở. Ông nhắc khái niệm “open washing”, tức dùng chữ “mở” như thuật ngữ tiếp thị. Việc dùng phần mềm nguồn mở chưa đủ để nói một công ty mở theo giá trị của giáo dục mở.
Ông giới thiệu một nghiên cứu công bố cách đây vài năm so sánh các mô hình AI nguồn mở theo nhiều tiêu chí: mã nguồn, mô hình, dữ liệu huấn luyện, tài liệu, giao diện lập trình. Theo ông, ChatGPT gần như không mở, dù công ty tạo ra nó mang tên OpenAI. Ông cũng nêu một nghiên cứu chưa công bố gồm 24 cuộc phỏng vấn, cho thấy người ta hiểu về tính mở ở hai bình diện: thuộc tính của công cụ và thực hành sử dụng (chia sẻ thế nào, ai được tham gia, đạo đức và trách nhiệm xã hội ra sao).

GS Robert Farrow: Hiện tượng “ảo giác” của AI luôn đi theo hướng sai lệch, vì AI không có khái niệm về sự thật mà chỉ dự đoán. Ảnh: Hà Tuấn Khoảng cách số và chất lượng
AI có thể thu hẹp khoảng cách số nhưng cũng có thể làm nó sâu thêm, tùy dùng AI của ai, huấn luyện thế nào và chia sẻ ra sao. Ông cảnh báo nguy cơ một dạng thực dân hóa, đế quốc hóa trong không gian số. Ông đặt câu hỏi AI là hạ tầng công hay tài sản tư nhân bị khai thác.
Về chất lượng, ông nói các mô hình AI thường chiều theo người dùng và có thể đưa thông tin sai với giọng rất tự tin. Người làm học liệu phải kiểm tra mọi thứ và chịu trách nhiệm, nếu không sẽ gây “ô nhiễm thông tin” khi nội dung sai quay lại dữ liệu huấn luyện. Theo ông, hiện tượng “ảo giác” của AI luôn đi theo hướng sai lệch, vì AI không có khái niệm về sự thật mà chỉ dự đoán.
Tính minh bạch và năng lực AI
Ông cho rằng cần khả năng giải thích được ở các hệ thống AI, vì bên kiểm soát có thể thay đổi thuật toán và thay đổi điều người dùng nhìn thấy, nhất là khi người dùng không phải chuyên gia. Năng lực AI, theo ông, không chỉ là biết dùng công cụ mà còn là hiểu các chiều cạnh đạo đức, xã hội và chính trị.
Kết lại, GS Robert Farrow gọi đây là “con dao hai lưỡi”, không chỉ riêng giáo dục mở mà cả giáo dục nói chung. Theo ông chưa có đáp án dứt khoát, cộng đồng toàn cầu cần ghi nhận và cùng giải quyết những căng thẳng này.

-
23/10/2026 11:15 PGS Yu-Lun Huang: Đài Loan kết nối 37 trường đại học, phát triển hơn 300 khóa học trực tuyến bằng AI
Tại hội thảo, PGS Yu-Lun Huang, Đại học Quốc lập Dương Minh Giao Thông (Đài Loan) đã chia sẻ kinh nghiệm phát triển tài nguyên giáo dục mở (OER), các khóa học trực tuyến và mô hình hợp tác giữa các trường đại học.
Theo PGS Yu-Lun Huang, phát triển giáo dục số là một quá trình dài, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về công nghệ, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và cơ chế vận hành của các cơ sở giáo dục. Thực tế tại Đài Loan cho thấy, việc đưa bài giảng lên internet mới chỉ là bước khởi đầu. Để hình thành một hệ sinh thái học tập số có khả năng vận hành bền vững, các trường đại học cần phối hợp với nhau, chia sẻ nguồn lực và tạo điều kiện để người học tiếp cận các khóa học ngoài phạm vi cơ sở đào tạo của mình.

PGS Yu-Lun Huang, Đại học Quốc lập Dương Minh Giao Thông (Đài Loan). Ảnh: Hà Tuấn Bà Yu-Lun Huang cho biết, trong mô hình giảng dạy truyền thống, giảng viên chủ yếu sử dụng bảng viết, bài trình chiếu và các phương pháp truyền đạt trực tiếp trên lớp. Cùng với sự phát triển của công nghệ, video bài giảng và các khóa học trực tuyến ngày càng được sử dụng rộng rãi.
Tuy nhiên, theo bà, số hóa bài giảng không đồng nghĩa với việc đã xây dựng được một mô hình học tập số hiệu quả. Giảng viên cần biết cách tổ chức hoạt động giảng dạy trong môi trường trực tuyến, trong khi sinh viên cũng cần được trang bị kỹ năng để chủ động học tập, tương tác và khai thác tài nguyên giáo dục.
Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với các trường đại học. Nếu chỉ tập trung đầu tư nền tảng công nghệ mà chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp, chưa hướng dẫn người học cách học trực tuyến và chưa xây dựng được đội ngũ hỗ trợ, hiệu quả của giáo dục số sẽ khó đạt như kỳ vọng.
Từ năm 2013, Bộ Giáo dục Đài Loan bắt đầu thúc đẩy các sáng kiến phát triển giảng dạy số tại các trường đại học. Trong giai đoạn đầu, chương trình tập trung vào những dự án riêng lẻ tại các cơ sở giáo dục, tạo điều kiện để giảng viên xây dựng các khóa học trực tuyến có chất lượng.
Theo PGS Yu-Lun Huang, giai đoạn 2018–2021 là giai đoạn đầu tiên của chương trình phát triển học tập số. Đài Loan đã hình thành được một số khóa học trực tuyến chất lượng cao, đồng thời khuyến khích giảng viên hợp tác xây dựng chuỗi khóa học thay vì mỗi người chỉ phát triển một khóa học riêng.
Dù vậy, việc chuyển từ các dự án riêng lẻ sang hợp tác có hệ thống không dễ dàng. Bà Huang cho biết, nguồn kinh phí dành cho một dự án không có nghĩa các mục tiêu chính sách sẽ tự động được tích hợp vào quy định và hoạt động thường xuyên của nhà trường.
Nói cách khác, muốn giáo dục số phát triển lâu dài, các trường không thể chỉ dựa vào sự chủ động của từng giảng viên. Cần có cơ chế tổ chức, phân công trách nhiệm và hỗ trợ phù hợp để việc phát triển khóa học, chia sẻ học liệu và phối hợp giữa các cơ sở đào tạo trở thành một phần trong hoạt động của nhà trường.
Từ năm 2022 đến năm 2025, Đài Loan triển khai giai đoạn tiếp theo của chương trình phát triển học tập số, với trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái thay vì chỉ hỗ trợ các dự án riêng lẻ.
Theo PGS Yu-Lun Huang, hệ sinh thái này cần kết hợp nhiều thành phần, bao gồm nền tảng công nghệ, khóa học và chương trình đào tạo, quy định của cơ sở giáo dục, cùng cộng đồng giảng viên, sinh viên và đội ngũ hỗ trợ hành chính.
Trong đó, quy định và cơ chế vận hành của nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng. Một khóa học trực tuyến có thể được xây dựng với nội dung tốt, nhưng để sinh viên từ trường khác tham gia, giảng viên chia sẻ bài giảng và các cơ sở giáo dục phối hợp lâu dài, cần có những quy trình hỗ trợ cụ thể.
Bà Huang cũng nhấn mạnh vai trò của đội ngũ hành chính và hậu cần trong hoạt động dạy học trực tuyến. Đây là lực lượng hỗ trợ giảng viên và sinh viên trong quá trình sử dụng nền tảng, tổ chức khóa học và xử lý những vấn đề phát sinh.
Bên cạnh đó, chương trình của Đài Loan có một hợp phần về nghiên cứu thể chế, tập trung thu thập dữ liệu nhằm đánh giá hiệu quả học tập. Việc phân tích dữ liệu không chỉ giúp xác định người học có gặp khó khăn hay không, mà còn hỗ trợ giảng viên hiểu rõ hơn những điểm cần cải thiện trong quá trình tổ chức giảng dạy.
Theo bà Huang, giảng viên cần tập trung vào nhiệm vụ chính là giảng dạy, trong khi đội ngũ hỗ trợ có trách nhiệm xác định loại dữ liệu cần thu thập, giúp phân tích thông tin và cung cấp phản hồi để giảng viên điều chỉnh hoạt động dạy học.
Cách tiếp cận này cho thấy giáo dục số không đơn thuần là câu chuyện của công nghệ. Hiệu quả phụ thuộc vào sự phối hợp giữa con người, nền tảng, chương trình đào tạo và cơ chế quản lý trong nhà trường.

Một điểm đáng chú ý trong kinh nghiệm của Đài Loan là xây dựng mô hình liên minh giữa các trường đại học để thúc đẩy hợp tác phát triển khóa học và chia sẻ nguồn lực.
Theo phần trình bày của PGS Yu-Lun Huang, chương trình đã hình thành 6 liên minh trong giai đoạn 2022–2023 và thêm 5 liên minh trong giai đoạn 2024–2025. Tổng cộng, có 11 liên minh được xây dựng, với 37 trường đại học tham gia, tương đương khoảng một phần tư số trường đại học tại Đài Loan.
Trong mô hình này, mỗi liên minh có một trường đại học đầu mối, phối hợp với khoảng 3–5 trường đối tác. Trường đầu mối thường có nhiều kinh nghiệm hơn trong phát triển học tập số, qua đó hỗ trợ các đơn vị thành viên xây dựng phương án hợp tác phù hợp.
Điểm đáng chú ý là các liên minh không vận hành theo một khuôn mẫu duy nhất. Bà Huang cho biết, chương trình ghi nhận những cách tổ chức hợp tác khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và thế mạnh của từng nhóm trường.
Với mô hình hợp tác theo nhiệm vụ, trường đầu mối phân công những phần việc cụ thể cho các trường đối tác. Mỗi đơn vị đảm nhận một nhiệm vụ riêng, góp phần tạo nên kết quả chung của liên minh.
Trong khi đó, mô hình hợp tác bổ trợ tập trung vào việc tận dụng thế mạnh của từng cơ sở giáo dục. Các trường có thể chia sẻ kinh nghiệm, giảng viên, thiết bị và phòng thu bài giảng. Một trường có thế mạnh về nội dung chuyên môn có thể phối hợp với trường có điều kiện kỹ thuật hoặc kinh nghiệm tổ chức đào tạo trực tuyến.
Mô hình hợp tác tích hợp lại dựa trên những mạng lưới đã hình thành từ trước. Các trường kết nối nguồn lực, chuyên môn và quan hệ hợp tác hiện có để triển khai hoạt động chung, thay vì phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống từ đầu.
Theo bà Huang, không một liên minh đơn lẻ nào có thể giải quyết mọi vấn đề. Vì vậy, chương trình cần tạo không gian để các liên minh phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm và bổ trợ lẫn nhau.
Cách tổ chức này cho phép các trường vừa duy trì bản sắc và thế mạnh riêng, vừa tham gia một hệ sinh thái chung. Đây cũng là cách tiếp cận giúp việc hợp tác không bị giới hạn trong một vài dự án, mà có thể mở rộng thành mạng lưới chia sẻ nguồn lực giữa nhiều cơ sở đào tạo.

PGS. Yu-Lun Huang bày tỏ mong muốn sinh viên Việt Nam có thể tìm hiểu và tham gia các khóa học trực tuyến của Đài Loan. Ảnh: Hà Tuấn Song song với việc xây dựng mạng lưới hợp tác, Đài Loan phát triển hơn 300 khóa học trực tuyến, được phân thành bốn nhóm lĩnh vực chính.
Các khóa học bao gồm công nghệ và kỹ thuật; y tế và sức khỏe; khoa học, phát triển bền vững và môi trường; kinh doanh, lãnh đạo và nhân văn. Danh mục này cho thấy học tập số không chỉ phục vụ các ngành công nghệ mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực đào tạo khác.
Theo bà Yu-Lun Huang, người học tham gia các khóa học không chỉ là sinh viên đại học. Chương trình còn có học sinh trung học và một bộ phận người học suốt đời. Một số sinh viên có thể tiếp cận khóa học do các trường đại học khác cung cấp, qua đó mở rộng lựa chọn học tập ngoài chương trình của cơ sở đào tạo đang theo học.
Đây là một trong những lợi ích đáng chú ý của mô hình chia sẻ khóa học. Thay vì mỗi trường phải tự phát triển toàn bộ nội dung đào tạo, các cơ sở giáo dục có thể tận dụng những khóa học chất lượng từ đối tác, đồng thời đóng góp những nội dung phù hợp với thế mạnh của mình.
Theo thông tin được giới thiệu tại hội thảo, có 11 trường đại học đối tác cung cấp các khóa học chất lượng cao được giới thiệu trong chương trình. Con số này cần được phân biệt với 11 liên minh đại học đã hình thành trong giai đoạn 2022–2025.
Nền tảng học tập của Bộ Giáo dục Đài Loan cũng được tích hợp công cụ dịch thuật bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Người dùng có thể lựa chọn ngôn ngữ để hỗ trợ tiếp cận nội dung khóa học.
Việc tích hợp công cụ dịch thuật mở ra khả năng giúp người học từ những quốc gia khác nhau tiếp cận tài nguyên giáo dục thuận lợi hơn. Tuy nhiên, công cụ này được giới thiệu như một phương tiện hỗ trợ người học, không đồng nghĩa mọi khóa học đã được chuyển ngữ hoặc mọi rào cản ngôn ngữ đã được giải quyết hoàn toàn.
Bà Huang bày tỏ mong muốn sinh viên Việt Nam có thể tìm hiểu và tham gia các khóa học trực tuyến của Đài Loan. Bà cũng khuyến khích các trường đại học và giảng viên Việt Nam quan tâm đến khả năng hợp tác, chia sẻ khóa học và kết nối nguồn lực đào tạo.
Bên cạnh công cụ dịch thuật, chương trình phát triển học tập số của Đài Loan còn thúc đẩy ứng dụng những công nghệ mới để hỗ trợ giảng viên và người học.
Theo bà Yu-Lun Huang, một số công cụ AI đã được tích hợp vào hệ thống quản lý học tập (LMS) tại các trường đại học. Chatbot có thể cung cấp phản hồi ban đầu cho sinh viên khi các em gặp khó khăn hoặc cần giải đáp thắc mắc trong quá trình học tập.
Cùng với đó, các công cụ phân tích dữ liệu được sử dụng để hỗ trợ giảng viên hiểu rõ hơn hoạt động học tập. Thay vì yêu cầu mỗi giảng viên tự thu thập và xử lý tất cả dữ liệu, đội ngũ hỗ trợ có nhiệm vụ xác định thông tin cần thiết, phân tích dữ liệu và cung cấp phản hồi phục vụ việc cải thiện khóa học.
Cách tổ chức này giúp phân định rõ hơn vai trò giữa giảng viên và đội ngũ hỗ trợ. Giảng viên tập trung vào thiết kế nội dung, phương pháp sư phạm và tương tác với người học; trong khi các nhóm chuyên môn hỗ trợ về công nghệ, dữ liệu và vận hành.
Dù vậy, việc ứng dụng AI không làm mất đi yêu cầu về chất lượng giảng dạy. Như bà Huang nhấn mạnh, giảng viên vẫn cần biết cách dạy trong môi trường số, còn người học cần được hướng dẫn để học hiệu quả. Công nghệ có thể hỗ trợ quá trình này, nhưng không thể tự thay thế toàn bộ hoạt động sư phạm và cơ chế bảo đảm chất lượng.
Từ kinh nghiệm của Đài Loan, có thể thấy một hệ sinh thái học tập số hiệu quả cần được xây dựng đồng thời trên ba phương diện: công nghệ phục vụ dạy và học; cơ chế hợp tác, chia sẻ nguồn lực; và đội ngũ có khả năng tổ chức, vận hành, đánh giá hoạt động đào tạo.
Từ năm 2026, Đài Loan tiếp tục thúc đẩy hợp tác với các quốc gia châu Á, trong đó có những nước thuộc Sáng kiến Hướng Nam Mới. Theo bà Yu-Lun Huang, chương trình hướng tới việc thu thập phản hồi từ các đối tác, tăng cường phân tích dữ liệu học tập và từng bước xây dựng nền tảng, quy định cần thiết để hỗ trợ việc công nhận tín chỉ.
Đối với sinh viên, khả năng tham gia các khóa học từ những trường đại học khác có thể mở rộng lựa chọn học tập. Tuy nhiên, để kết quả học tập được công nhận chính thức, các cơ sở đào tạo cần tiếp tục trao đổi về chương trình, chuẩn đầu ra và cơ chế công nhận phù hợp.
Bà Huang đề cập khả năng hợp tác với các trường đại học Việt Nam thông qua chia sẻ khóa học, phối hợp giảng dạy và nghiên cứu cơ chế công nhận tín chỉ cho sinh viên. Đây là định hướng được đề xuất để hai bên tiếp tục tìm hiểu, không đồng nghĩa cơ chế hợp tác đã được thiết lập đầy đủ.
Bà cũng bày tỏ mong muốn kết nối với các trường và giảng viên Việt Nam để chia sẻ thông tin về khóa học, tài nguyên giáo dục và những kinh nghiệm triển khai học tập số tại Đài Loan.

-
23/10/2026 10:50 TS Igor Lesko: Xây dựng hệ thống giáo dục đại học mở và bền vững - bài toán từ chính sách đến thực thi
Trình bày tham luận tại hội thảo, Tiến sĩ Igor Lesko, Giám đốc điều hành Tổ chức Giáo dục Mở Toàn cầu (Open Education Global - OE Global), đã mang đến một góc nhìn toàn diện và sâu sắc về lộ trình xây dựng hệ thống giáo dục đại học mở, bình đẳng và bền vững. Bằng sự kết hợp giữa thực tiễn điều phối mạng lưới toàn cầu và kết quả từ công trình nghiên cứu tiến sĩ quy mô lớn, bài phát biểu của ông đã giải mã bài toán cốt lõi: Làm thế nào để các sáng kiến giáo dục mở không chỉ dừng lại ở các dự án ngắn hạn mà có thể phát triển bền vững trong dài hạn?
.jpg)
Tiến sĩ Igor Lesko, Giám đốc điều hành Tổ chức Giáo dục Mở Toàn cầu (Open Education Global - OE Global), đã mang đến một góc nhìn toàn diện và sâu sắc về lộ trình xây dựng hệ thống giáo dục đại học mở, bình đẳng và bền vững. Ảnh: Hà Tuấn Mở đầu ấn tượng và tầm nhìn vượt giới hạn "sách giáo khoa miễn phí"
Tiến sĩ Lesko nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi tư duy và cách tiếp cận đối với Giáo dục Mở (Open Education). Ông khẳng định rằng, giáo dục mở mang một tiềm năng biến đổi sâu sắc hơn rất nhiều so với khái niệm thu hẹp mà nhiều người thường nghĩ là "chỉ cung cấp các tài nguyên hay sách giáo khoa miễn phí".
Dựa trên ba trụ cột chiến lược trong kế hoạch hoạt động của OE Global bao gồm: Xây dựng lĩnh vực (Field building), Trao đổi tri thức (Knowledge exchange) và Cùng tạo ra giá trị (Value co-creation), Tiến sĩ Lesko chỉ ra rằng tinh thần hợp tác và cùng tạo ra giá trị chính là yếu tố then chốt nằm trong "DNA" của tổ chức. Giáo dục mở cần được hiểu là một tập hợp bao gồm các tài nguyên, công cụ và thực hành giáo dục tiên tiến. Khi được triển khai đúng đắn, giáo dục mở mang lại những giá trị thực chứng rõ rệt:
Nâng cao chất lượng giáo dục và cải thiện trải nghiệm học tập của người học.
Gia tăng tỷ lệ duy trì học tập và củng cố mức độ tương tác, gắn kết của sinh viên đối với nhà trường.
Mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và thu hút sự tham gia của các tầng lớp học viên đa dạng.
Tối ưu hóa chi phí học tập thông qua việc giảm thiểu gánh nặng mua sách giáo khoa và học liệu.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bản địa hóa, địa phương hóa và ngữ cảnh hóa các tài liệu học tập sao cho phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ bản địa.
Thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác liên ngành, liên viện và xuyên biên giới.
Trực tiếp đóng góp và hỗ trợ các cam kết quốc tế lớn, đặc biệt là Mục tiêu Phát triển Bền vững số 4 (SDG 4) của Liên Hợp Quốc về một nền giáo dục có chất lượng, bình đẳng và bao trùm.
Bên cạnh đó, Tiến sĩ Lesko cũng phân tích thêm rằng, giáo dục mở không vận hành một cách cô lập. Nó nằm trong một hệ sinh thái rộng lớn hơn và chia sẻ chung một hệ giá trị cốt lõi với các chuyển động "mở" khác trên thế giới, bao gồm Khoa học Mở (Open Science), Phần mềm và Phần cứng Mã nguồn Mở (FOSS/Hardware), cũng như Xuất bản Truy cập Mở (Open Access).

TS. Igor Lesko. Ảnh: Hà Tuấn Mạng lưới kết nối toàn cầu và các cột mốc sự kiện trọng tâm
Để minh họa cho cách thức OE Global hiện thực hóa chiến lược của mình, Tiến sĩ Igor Lesko đã điểm qua hàng loạt mạng lưới chuyên ngành và khu vực mà tổ chức đang trực tiếp hỗ trợ hoặc điều phối:
CCCOER (Community College Consortium for Open Educational Resources): Mạng lưới dành riêng cho khối các trường cao đẳng cộng đồng tại Hoa Kỳ, tập trung vào việc thúc đẩy tài nguyên mở trong môi trường đào tạo nghề và đại học đại cương.
Open Education Latin America (OE LATAM): Mạng lưới theo dõi và thúc đẩy các bước tiến về giáo dục mở tại khu vực Mỹ La-tinh, với khung làm việc thiết kế riêng cho cộng đồng các nước nói tiếng Tây Ban Nha.
MERLOT và Mạng lưới các Mạng lưới (Network of Networks): Mô hình liên minh do OE Global phối hợp điều phối nhằm kết nối nhiều tổ chức quốc tế lại với nhau, cùng hợp lực giải quyết những chương trình nghị sự quy mô lớn mà một tổ chức đơn lẻ không thể tự thực hiện.
Chương trình Open Textbook Equity: Sáng kiến tại Mỹ hỗ trợ các nhà giáo dục cập nhật, chỉnh sửa chương trình giảng dạy và giáo trình nhằm tăng cường tính bao trùm, công bằng và đa dạng văn hóa.
Về mặt sự kiện và tạo dựng cộng đồng, diễn giả nhấn mạnh vai trò của Tuần lễ Giáo dục Mở (Open Education Week) diễn ra vào tháng 3 hàng năm. Đây là dịp để cộng đồng toàn cầu tổ chức hàng loạt sự kiện trực tiếp lẫn trực tuyến, chia sẻ các tài nguyên mở mới phát triển và khởi xướng các mối quan hệ hợp tác mới.
Tiến sĩ Lesko cũng nhắc đến Hội nghị OER26 vừa được tổ chức thành công tại Mỹ dưới dạng kết hợp (hybrid), quy tụ 300 đại biểu tham dự trực tiếp và 200 đại biểu tham dự trực tuyến, do OE Global phối hợp cùng MIT Open Learning Initiative và Hội đồng Cố vấn OER Bang Massachusetts thực hiện. Ngoài ra, chuỗi hội thảo trực tuyến OER Global Tour phủ sóng 5 khu vực (Bắc Mỹ, Philippines/Châu Á, Châu Âu, Châu Đại Dương, Mỹ La-tinh) cũng đã thử nghiệm thành công việc ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) để tổng hợp báo cáo diễn biến và phát hành dưới dạng giấy phép mở. Ông cũng chính thức thông báo Hội nghị Toàn cầu OE Global 2028 sẽ được tổ chức tại Nagoya, Nhật Bản bởi đơn vị chủ nhà Open Education Japan.
Nhìn lại hành trình cá nhân từ năm 2010 - thời điểm ông mới gia nhập tổ chức khi còn mang tên OpenCourseWare Consortium, Tiến sĩ Igor Lesko chia sẻ sâu về công trình nghiên cứu tiến sĩ mà ông vừa hoàn thành tại Đại học Mở Hà Lan. Nghiên cứu của ông tập trung vào câu hỏi trọng tâm: Không phải là liệu giáo dục mở có mang lại lợi ích hay không, mà là làm thế nào để duy trì bền vững các lợi ích đó trong dài hạn?
Để trả lời câu hỏi này, Tiến sĩ Lesko đã triển khai một phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích văn bản hết sức đồ sộ:
Phân tích và rà soát hơn 2.000 văn bản chính sách và tài liệu chính thức từ năm 2002 đến giai đoạn 2019–2024.
Thực hiện 50 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện các tổ chức quốc tế lớn như UNESCO, Ủy ban Châu Âu (EC).
Thực hiện 75 cuộc phỏng vấn với các cố vấn chính sách, chuyên gia tại 30 quốc gia - trong đó bao gồm cả các phân tích chuyên sâu về bối cảnh chính sách giáo dục tại Việt Nam.
Tiến sĩ Lesko chỉ ra một thực trạng nhức nhối: Mặc dù các lợi ích của OER đã được chứng minh và hàng loạt tuyên bố chính sách được ký kết, hầu hết các sáng kiến giáo dục mở vẫn rất mong mỏng (fragile). Rất nhiều dự án đã ngay lập tức dừng lại hoặc bị đẩy ra bên lề khi nguồn kinh phí tài trợ ban đầu hết hạn.
Dựa trên khung phân loại công cụ chính sách của Viện Lập kế hoạch Giáo dục Quốc tế thuộc UNESCO (UNESCO-IIEP), diễn giả đã chỉ ra bức tranh thực tế về cách các chính phủ đang sử dụng các công cụ quản lý:
Công cụ Thông tin (Hướng dẫn, bài phát biểu, thông cáo báo chí, quy tắc thực hành): Đây là nhóm công cụ được các cơ quan chính phủ sử dụng nhiều nhất trong giai đoạn 2002–2019. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở các bài phát biểu hay văn bản hướng dẫn chung chung mà thiếu đi chế tài pháp lý hoặc nguồn lực tài chính thì tác động thực tế lại rất yếu.
Công cụ Tài chính (Học bổng, cấp vốn dự án, tài trợ trực tiếp/gián tiếp): Được áp dụng rộng rãi nhưng thường mang tính ngắn hạn. Khi chương trình cấp vốn kết thúc, các hoạt động OER cũng dừng lại.
Công cụ Quy định và Pháp lý (Luật, bắt buộc áp dụng giấy phép mở cho sản phẩm dùng vốn công): Phân tích cho thấy hơn 50% quốc gia được nghiên cứu lựa chọn giải pháp lồng ghép OER vào các khung chính sách hiện hành (như chính sách giáo dục đại học, chính sách chuyển đổi số) thay vì ban hành một đạo luật OER riêng biệt.
Các con đường chính sách hướng tới sự bền vững dài hạn
Để đưa các khung cam kết quốc tế mang tính thiết lập chương trình nghị sự - như Khuyến nghị OER 2019 của UNESCO hay Tuyên bố Dubai về AI trong Giáo dục - đi vào thực tế cuộc sống, Tiến sĩ Igor Lesko nhấn mạnh rằng các chính phủ và cơ sở giáo dục đại học (bao gồm cả bối cảnh tại Việt Nam) cần triển khai một tập hợp đồng bộ các con đường chính sách (Policy Pathways):
Chính sách cho chúng ta định hướng, nhưng chính sách suông không thể tự vận hành nếu thiếu ngân sách thường xuyên, cấu trúc thể chế, năng lực chuyên môn và hướng dẫn vận hành cụ thể.
TS. Igor Lesko
Con đường Vận động và Dữ liệu thực chứng (Advocacy & Evidence): Vận động chính sách chỉ thực sự có hiệu lực khi nó gắn liền được giá trị của giáo dục mở với các ưu tiên công cộng lớn của quốc gia. Các nhà chính sách ở tất cả 30 quốc gia được phỏng vấn đều khẳng định rằng họ liên tục cần các dữ liệu thực chứng mới, cập nhật để bảo vệ và duy trì chính sách. Dữ liệu này phải chứng minh được OER giải quyết các bài toán hiện đại như Trí tuệ nhân tạo (AI), Khoa học Mở, Hạ tầng số công cộng (Digital Public Infrastructure), cũng như các thách thức toàn cầu về y tế và biến đổi khí hậu.
Con đường Quy định và Thể chế (Regulatory & Institutional): Ban hành các quy định bắt buộc áp dụng giấy phép mở đối với các tài liệu nghiên cứu, giảng dạy được sản xuất bằng ngân sách nhà nước. Ở cấp độ nhà trường, cần đưa các đóng góp về giáo dục mở vào khung đánh giá thi đua, xem xét thăng tiến và phong hàm cho giảng viên.
Con đường Tài chính bền vững (Financial): Cần chuyển dịch từ cơ cấu "cấp vốn theo dự án tạm thời" sang việc đưa chi phí phát triển và duy trì OER vào "ngân sách vận hành thường xuyên" của các trường đại học.
Con đường Nâng cao năng lực và Hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance & Capacity Building): Tổ chức các chương trình tập huấn bài bản, nâng cao kỹ năng thực hành mở cho cán bộ quản lý, lực lượng giảng viên và sinh viên. Diễn giả đánh giá đây là bước đi đặc biệt then chốt trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam khi triển khai các khung chính sách đã có.
Con đường Mạng lưới và Điều phối (Networks & Coordination): Nghiên cứu của Tiến sĩ Lesko khẳng định đây là yếu tố cốt lõi nhất. Việc tạo ra các không gian mạng lưới để các nhà làm chính sách và lực lượng thực hành trực tiếp gặp gỡ, chia sẻ minh bạch về những thuận lợi, khó khăn, những điều làm được và chưa làm được sẽ giúp điều chỉnh chính sách sát với thực tế.
Tránh bẫy "Anh hùng đơn độc" và bài học về thể chế hóa
Ở phần cuối của bài nói chuyện, Tiến sĩ Igor Lesko dành thời gian phân tích sâu về yếu tố con người - cụ thể là vai trò của các "thủ lĩnh" (champions). Ông thừa nhận rằng, khi nhìn lại các thắng lợi về chính sách OER ở nhiều quốc gia, tiểu bang hay tỉnh thành trên thế giới, phần lớn đều ghi dấu ấn đậm nét của các cá nhân thủ lĩnh nhiệt huyết, những người có khả năng chèo lái và kết nối các cơ quan hành chính phức tạp.
Tuy nhiên, diễn giả đưa ra lời cảnh báo đanh thép về nguy cơ của hình mẫu "Anh hùng đơn độc" (Lone Hero). Nếu một thủ lĩnh hoạt động đơn độc mà không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về tài chính, cấu trúc thể chế và nguồn lực nhân sự, họ sẽ sớm bị kiệt sức hoặc chuyển sang công tác khác. Khi thủ lĩnh rời đi, toàn bộ sáng kiến giáo dục mở tại cơ sở đó cũng sụp đổ theo.
Do đó, bài toán đặt ra cho các nhà quản lý là không được biến OER thành công việc cá nhân của một vài người tài năng. Các chính phủ và nhà trường phải thể chế hóa quy trình làm việc, cung cấp đủ ngân sách vận hành cho các mạng lưới (vì bản thân các mạng lưới không thể tự chạy nếu không có nguồn lực hỗ trợ), đồng thời chủ động phát hiện, đào tạo và nâng đỡ thế hệ thủ lĩnh tiếp theo để đảm bảo tính kế thừa liên tục.

Khép lại bài phát biểu, Tiến sĩ Igor Lesko đúc kết thông điệp cốt lõi bằng một lời khẳng định đầy tính chiến lược:
"Khi chúng ta bàn về các chiến lược đảm bảo cho một hệ thống giáo dục đại học mở, bình đẳng và bền vững, câu chuyện không chỉ dừng lại ở các ý tưởng hay các văn bản chính sách. Ý tưởng là cần thiết, nhưng khâu thực thi mới là yếu tố quyết định. Chính sách cho chúng ta định hướng, nhưng chúng ta bắt buộc phải có ngân sách, cấu trúc thể chế, năng lực chuyên môn và sự hỗ trợ nguồn lực dài hạn cho các mạng lưới để biến định hướng đó thành hiện thực."
-
23/10/2026 10:00 PGS.TS Đỗ Văn Hùng, Trưởng khoa Quản trị Thông tin, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: Trong kỉ nguyên AI, dễ dàng tiếp cận tri thức có đồng nghĩa với bình đẳng giáo dục?
Nhiều năm qua, bức tranh giáo dục mở trên toàn cầu đã đạt được những bước tiến mang tính bước ngoặt. Những nỗ lực cởi bỏ rào cản tri thức đã giúp nhân loại tiệm cận hơn với mô hình giáo dục công bằng. Hệ thống Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) cho phép người học tự do tái sử dụng, điều chỉnh và chia sẻ tài liệu. Phong trào Truy cập Mở giúp giới khoa học tiếp cận kho tàng tri thức vô tận, trong khi các sáng kiến Sư phạm Mở trao quyền chủ động cho giáo viên trong quá trình sáng tạo bài giảng. Bên cạnh đó, Khoa học Mở cũng đẩy mạnh việc chia sẻ rộng rãi dữ liệu và kết quả nghiên cứu.

PGS.TS Đỗ Văn Hùng, Trưởng khoa Quản trị Thông tin, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ảnh: Hà Tuấn Tuy nhiên, sự bùng nổ của trí tuệ Nhân tạo (AI) đang đặt ra một bài toán hoàn toàn mới. Liệu việc tri thức trở nên dễ tiếp cận hơn có đồng nghĩa với việc giáo dục mặc nhiên trở nên bình đẳng hơn hay không?
Câu trả lời chắc chắn là không.
Việc loại bỏ các rào cản tiếp cận tri thức là vô cùng quan trọng. Nhưng trong kỷ nguyên AI, khả năng "tiếp cận" thuần túy không còn là yếu tố mang tính quyết định. Vấn đề then chốt hiện nay không dừng lại ở việc liệu con người có thể tiếp cận được tri thức hay không, mà là họ sẽ làm gì và ứng dụng tri thức đó ra sao sau khi đã có nó trong tay.
Nhìn lại bức tranh toàn cảnh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khảo sát do nhóm nghiên cứu thực hiện trên 180 công trình về giáo dục mở tại các trường đại học trong vòng 15 năm qua (với hơn 2.200 lượt trích dẫn) cho thấy: Lĩnh vực này đạt tốc độ tăng trưởng nghiên cứu trung bình 10,5% mỗi năm.
Đáng chú ý, năm 2020 đánh dấu một cột mốc đặc biệt. Mặc dù chỉ có 14 nghiên cứu được công bố trong năm này, nhưng các công trình đó lại thu hút tới 540 lượt trích dẫn, chiếm gần 1/4 tổng số trích dẫn của toàn bộ bộ dữ liệu trong suốt 15 năm. Điều này phản ánh sự quan tâm vượt bậc của giới học thuật đối với nhu cầu chuyển đổi và ứng dụng giáo dục mở trong bối cảnh thế giới đối mặt với những biến động lớn.
Có thể thấy, AI đang thay đổi hoàn toàn cách chúng ta mở ra cánh cửa tri thức. Để đạt được sự bình đẳng thực sự trong giáo dục, tập trung vào việc "mở" tài nguyên là chưa đủ, mà cần phải nâng cao năng lực làm chủ và biến tri thức thành giá trị thực tiễn cho người học
Bên cạnh tiềm năng phát triển, dữ liệu nghiên cứu còn phơi bày một bức tranh đầy tương phản ngay trong lòng phong trào giáo dục mở. Dù mang sứ mệnh cởi bỏ rào cản tri thức, chỉ có 41% các công trình nghiên cứu về giáo dục mở tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được công bố dưới hình thức Truy cập Mở. Tức là, cứ khoảng 10 bài viết nghiên cứu thì có tới gần 6 bài vẫn nằm sau "bức tường trả phí" và chưa thực sự đến được với công chúng.
Không dừng lại ở đó, bức tranh nghiên cứu trong khu vực còn thể hiện sự bất cân bằng nghiêm trọng về mặt địa lý. Trong tổng số 180 công trình được rà soát, có tới 134 nghiên cứu thuộc về ba quốc gia: Trung Quốc, Úc và Ấn Độ. Dù đóng vai trò là những trung tâm nghiên cứu nòng cốt, ba hạt nhân này lại hoạt động tương đối biệt lập và thiếu sự kết nối, hợp tác chặt chẽ với nhau.
Thực tế này đặt ra một nghịch lý lớn: Chúng ta thảo luận về giáo dục mở nhưng bản thân các nghiên cứu lại không "mở", đồng thời các trung tâm tri thức lớn vẫn duy trì khoảng cách. Điều đó chứng minh rằng khái niệm "mở" không dừng lại ở quyền tiếp cận thuần túy, mà cốt lõi nằm ở câu hỏi: Ai là người tạo ra tri thức, ai đang chia sẻ tri thức và những ai thực sự được tham gia vào tiến trình đó?
Trong bối cảnh đó, sự bùng nổ của AI một lần nữa tái định hình toàn bộ bức tranh giáo dục. Đối với Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực đa dạng bậc nhất về ngôn ngữ, văn hóa và trình độ phát triển, AI mang đến những cơ hội mang tính đột phá:
Xóa bỏ rào cản ngôn ngữ: AI có khả năng dịch thuật siêu tốc các giáo trình quốc tế sang nhiều ngôn ngữ địa phương.
Tối ưu hóa khả năng tiếp thu: Chuyển đổi các nội dung chuyên ngành phức tạp thành bài viết dễ hiểu, tóm tắt ý chính, tạo câu hỏi trắc nghiệm hoặc xây dựng các bài tập tình huống (case study) sinh động.
Tăng tốc sáng tạo: Hỗ trợ giáo viên và người học chủ động tìm kiếm, tùy biến cũng như cá nhân hóa các tài nguyên giáo dục mở (OER) một cách nhanh chóng.
Nhờ có AI, việc điều phối và lan tỏa tri thức trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng cảnh báo rằng: Bên cạnh những tiềm năng vượt trội, AI cũng tiềm ẩn nguy cơ nới rộng thêm những bất bình đẳng sẵn có nếu không được định hướng và khai thác một cách hợp lý.
AI không chỉ đơn thuần mở ra cánh cửa tri thức mà còn tái định hình sâu sắc ai là người thực sự hưởng lợi từ kho tàng tri thức đó. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của một khái niệm mới: Khoảng cách số trong kỷ nguyên AI.
Trước đây, khi đề cập đến khoảng cách số, chúng ta thường tập trung vào ba yếu tố: thiết bị, đường truyền internet và quyền tiếp cận nội dung số. Dù các yếu tố này vẫn giữ vai trò nền tảng, khoảng cách trong thời đại AI đã chuyển sang một hình thái phức tạp hơn nhiều.
Hãy so sánh hai người học có cùng laptop, chung kết nối internet và truy cập cùng một công cụ AI, tức là hoàn toàn bình đẳng về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên người thứ nhất sở hữu kỹ năng số vượt trội, biết cách khai thác AI hiệu quả, có tư duy phản biện thông tin, tiếp cận nguồn tài liệu chất lượng và nhận được sự đồng hành bài bản từ nhà trường.
Người thứ hai lại thiếu hụt hoàn toàn những nền tảng và sự hỗ trợ nói trên.
Lúc này, liệu hai người học có thực sự đứng trên cùng một "mặt phẳng cơ hội"? Chắc chắn là không. Khoảng cách số ngày nay đã dịch chuyển từ rào cản công nghệ thuần túy sang khả năng biến quyền tiếp cận công nghệ thành năng lực thực tế.
Để đáp ứng thực tiễn này, khái niệm "mở" trong giáo dục cần được định nghĩa lại một cách toàn diện hơn thông qua 4 cấp độ:
Cấp độ tiếp cận: Người học có thể chạm tới tri thức hay không?
Cấp độ năng lực: Khi đã tiếp cận, người học có hiểu, vận dụng tri thức một cách hiệu quả và có trách nhiệm hay không?
Cấp độ tham gia: Người học có đủ năng lực chất vấn, tùy chỉnh và từ đó sáng tạo ra những giá trị tri thức mới hay không?
Cấp độ đóng góp: Tri thức mới do người học tạo ra có được đưa ngược trở lại để đóng góp vào không gian tri thức chung của cộng đồng hay không?
Cấp độ thứ tư "đóng góp" đặc biệt mang ý nghĩa chiến lược đối với Châu Á - Thái Bình Dương. Là khu vực đa dạng bậc nhất về ngôn ngữ, văn hóa và bản sắc cộng đồng, "mở" không thể chỉ là luồng tri thức một chiều chảy từ các trung tâm lớn ra phần còn lại của thế giới. Tri thức cần phải luân chuyển theo hai chiều bình đẳng.
Tóm lại, "Mở" trong kỷ nguyên AI không chỉ dừng lại ở sự sẵn có hay khả năng truy cập đơn thuần. Giáo dục mở thực sự phải tạo ra cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người được tiếp cận, sử dụng, tham gia và đóng góp vào kho tàng tri thức chung của nhân loại.
Sự bùng nổ của AI đang mở ra một bức tranh đầy tính phân hóa: Với những người học đã sở hữu nền tảng vững chắc, từ môi trường học tập chất lượng, giảng viên giỏi, kỹ năng số xuất sắc đến nguồn tài liệu uy tín, AI sẽ trở thành đòn bẩy nhân rộng cơ hội. Nâng cao hơn nữa, nếu thiếu hụt những yếu tố nền tảng đó, AI có nguy cơ nới rộng và đào sâu thêm khoảng cách bất bình đẳng hiện có.
Chính vì vậy, câu chuyện ứng dụng công nghệ trong giáo dục không chỉ đơn thuần là việc sinh viên "có nên dùng ChatGPT, Gemini hay không". Vấn đề mang tính chiến lược nằm ở "Trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm", đòi hỏi sự cân nhắc toàn diện trên nhiều khía cạnh: bảo vệ quyền riêng tư, đảm bảo tính minh bạch, tôn trọng bản quyền, kiểm soát thiên kiến, xác minh dữ liệu và nâng cao năng lực nhận thức của con người. Công nghệ là công cụ quan trọng, nhưng năng lực và bản lĩnh con người mới là yếu tố quyết định.
Mô hình thực tiễn tại Việt Nam là một ví dụ điển hình cho tư duy giáo dục mở hiện đại. Tương tự nhiều quốc gia đang phát triển, Việt Nam hướng tới tiếp cận chiến lược toàn cầu thông qua các nghiên cứu quốc tế, nguồn tài nguyên khoa học mở và các cơ hội học tập xuyên biên giới. Tuy nhiên, sự "mở" ở đây không còn là quá trình thụ động một chiều.

PGS.TS Đỗ Văn Hùng: Một tương lai giáo dục mở thực sự sẽ không phụ thuộc vào việc chúng ta đã "mở" được bao nhiêu tài nguyên, mà phụ thuộc vào việc chúng ta mở ra cơ hội cho bao nhiêu người. Ảnh: Hà Tuấn Việt Nam sở hữu những nghiên cứu giá trị, tài nguyên giáo dục bản địa, cùng bề dày kinh nghiệm văn hóa - tri thức hoàn toàn có thể đóng góp ngược trở lại cho khu vực và thế giới. Để đạt được điều đó, tiến trình hội nhập tri thức cần thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ then chốt:
Bản địa hóa tri thức toàn cầu: Chuyển hóa các giá trị tri thức quốc tế cho phù hợp với bối cảnh và nhu cầu thực tiễn trong nước.
"Mở hóa" tri thức nội địa: Đưa các tài nguyên và công trình nghiên cứu của Việt Nam tiếp cận các tiêu chuẩn mở.
Kết nối mạng lưới: Chủ động đưa tri thức Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy tri thức của khu vực và thế giới.
Các kết quả nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra một bước chuyển dịch tư duy quan trọng. Bối cảnh hiện nay không dừng lại ở câu hỏi "Làm thế nào để triển khai Mô hình Tài nguyên Giáo dục Mở (OER)?", mà đã nâng tầm thành "Làm sao để đảm bảo tính bền vững của giáo dục mở?".
Giáo dục mở không thể chỉ dừng lại ở phạm vi một dự án ngắn hạn, một môn học thử nghiệm, hay chỉ hoạt động khi có nguồn vốn tài trợ. Mô hình này cần một hệ sinh thái bền vững dài hạn, được hỗ trợ bởi những chính sách hỗ trợ chiến lược và kịp thời từ các cơ quan quản lý.
Để cùng nhau tạo nên những chuyển biến tích cực tại Châu Á - Thái Bình Dương, việc xác định các trọng tâm hành động là vô cùng cấp thiết. Năm ưu tiên chiến lược dưới đây chính là kim chỉ nam cho tiến trình phát triển của khu vực:
Thúc đẩy tri thức mở: Tiếp tục bảo đảm các nguồn tri thức chất lượng cao luôn sẵn có, dễ dàng tiếp cận, vận dụng và chia sẻ rộng rãi cho cộng đồng.
Đầu tư nâng cao năng lực con người: Tập trung phát triển toàn diện kỹ năng số, năng lực xử lý thông tin và tư duy ứng dụng AI cho cả đội ngũ nhà giáo lẫn người học.
Xây dựng hạ tầng công nghệ bao trùm: Phát triển hệ thống nền tảng có khả năng hỗ trợ đa ngôn ngữ, tối ưu hóa cho người dùng ở mọi vùng miền, đáp ứng đa dạng trình độ và năng lực tiếp cận.
Phát triển Trí tuệ Nhân tạo có trách nhiệm: Khai thác tối đa sức mạnh của AI trong giáo dục, đồng thời thắt chặt quy trình bảo vệ quyền riêng tư, đảm bảo tính minh bạch, tôn trọng bản quyền và duy trì vai trò đánh giá, định hướng cốt lõi của con người.
Thiết lập nền tảng tri thức chung toàn khu vực: Tăng cường liên kết và hợp tác sâu rộng giữa các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương.
Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng, dù sở hữu tiềm năng học thuật lớn, mức độ gắn kết giữa các trung tâm tri thức trong khu vực vẫn còn khá mờ nhạt. Mục tiêu cốt lõi thời gian tới không chỉ nằm ở việc sản xuất thêm tài nguyên hay gia tăng số lượng công trình công bố, mà là siết chặt tính kết nối, giữa các viện trường, giữa các quốc gia và giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Đó chính là con đường duy nhất để kiến tạo một tương lai mở bền vững.
Trở lại với câu hỏi mang tính cốt lõi: Trong nhiều năm qua, chúng ta liên tục trăn trở "Chúng ta có thể mở rộng tri thức đến mức độ nào?". Đây vẫn là câu hỏi giá trị, nhưng trong kỷ nguyên AI, điều đó là chưa đủ.
Bài toán đặt ra hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đi sâu hơn: Ai là người có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào một xã hội tri thức được hỗ trợ bởi AI? Ai có quyền tiếp cận tri thức? Ai có khả năng thấu hiểu và vận dụng hiệu quả? Ai có thể sáng tạo và đóng góp tri thức mới? Và tri thức của ai sẽ được hiện diện, tôn vinh một cách rõ nét hơn?
Sự dịch chuyển trong tư duy này đang đưa chúng ta bước qua ranh giới của "quyền tiếp cận" thuần túy để tiệm cận tới sự bình đẳng thực sự, nơi mọi cá nhân không chỉ dừng lại ở việc thụ hưởng tri thức, mà còn trở thành một chủ thể chủ động trong không gian tri thức toàn cầu.
Việc mở ra cánh cửa tri thức hiện nay mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn cả là phải đảm bảo mỗi cá nhân đều có đủ năng lực để tự tin bước qua cánh cửa đó, thấu hiểu kho tàng tri thức phía sau, vận dụng một cách có trách nhiệm, chủ động sáng tạo nên những giá trị mới và có cơ hội chia sẻ thành quả đó với cộng đồng.
Tương lai của giáo dục mở không thể được đo lường thuần túy bằng số lượng tài nguyên mở được tạo ra, hay số lượng công cụ AI được đưa vào sử dụng. Thước đo giá trị thực sự chính là số lượng con người có thể thực sự tham gia và thụ hưởng từ tiến trình ấy.
Tất cả tư duy chuyển đổi đó được đúc kết qua 4 từ khóa chiến lược: Tiếp cận -> Năng lực -> Tham gia -> Đóng góp.
Một tương lai giáo dục mở thực sự sẽ không phụ thuộc vào việc chúng ta đã "mở" được bao nhiêu tài nguyên, mà phụ thuộc vào việc chúng ta mở ra cơ hội cho bao nhiêu người, và có bao nhiêu cá nhân thực sự có thể tham gia, trưởng thành và đóng góp cho xã hội từ hành trình đó.

-
23/10/2026 09:30 GS Rory McGreal, Đại học Athabasca (Canada): Tất cả nội dung AI tạo ra đều phải dựa trên tri thức của con người
Trong tham luận "Tương lai của OER và GenAI trong giáo dục: Đạo đức, sở hữu và tương lai của tri thức", GS Rory Patrick McGreal, Giáo sư tại Khoa Nhân văn và Khoa học Xã hội, Đại học Athabasca, Canada, Chủ tịch UNESCO về Tài nguyên Giáo dục Mở nêu quan điểm rõ ràng: Con người và AI hoàn toàn có thể cộng sinh với nhau.

GS Rory Patrick McGreal, Đại học Athabasca, Canada, Chủ tịch UNESCO về Tài nguyên Giáo dục Mở. Ảnh: Hà Tuấn GS. Rory McGreal nhận định, không có gì mang tính con người hơn AI. Theo ông, làm ra công cụ để cải thiện bản thân là bản chất của con người, từ phát minh bánh xe cho tới AI hiện tại.
Nội dung AI tạo sinh thuộc phạm vi công cộng
Đây là điểm được GS. Rory McGreal nhấn mạnh nhất: nội dung do AI tạo sinh không có bản quyền, nên có thể điều chỉnh, dịch, đưa vào hoặc bỏ khỏi bài giảng mà không cần xin phép. Chỉ phần do con người viết mới được bảo hộ. Ông dẫn quan điểm của Mỹ (nội dung chỉ do AI tạo ra không đủ điều kiện bảo hộ, được củng cố bởi một phán quyết phúc thẩm), của Tòa án Internet Bắc Kinh (người tham gia vào quá trình tạo sinh có thể là tác giả, nếu không thì không có bản quyền) và sự đồng thuận ở châu Âu là không bảo hộ.
Với giáo dục mở, theo ông, AI tạo sinh giúp soạn học liệu dễ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Từ một đề cương môn kĩ thuật do AI tạo ra có thể dựng tiếp mô-đun, bài giảng và bài kiểm tra, rồi dịch sang tiếng Việt, Hindi, Ba Tư hay Campuchia trong chưa đầy một phút, nên tri thức không còn bó trong lớp học truyền thống.
Cuộc chiến bản quyền
GS. Rory McGreal cảnh báo các nhà xuất bản lớn đang tranh giành quyền kiểm soát với các công ty AI lớn ở Mỹ. Họ muốn áp cơ chế “trả tiền để thu thập dữ liệu”, kiểm soát truy cập, định giá, thanh toán, đo đếm và ghi nhật kí, cùng khoản thu với các hệ thống AI thương mại. Ông kêu gọi cộng đồng phản đối để không xuất hiện thế hệ “người gác cổng thông tin” mới, vì người dùng AI không lấy đi của ai thứ gì nên không phải kẻ trộm.
Theo ông, AI chỉ lấy lượng thông tin không đáng kể từ nhiều nguồn, giống cách con người học, và ý tưởng thì không thể có bản quyền. Khi trích lượng đáng kể, AI sẽ cho biết tác giả để người dùng ghi tên theo nguyên tắc sử dụng hợp lí. Ông nhắc một vụ dàn xếp bản quyền lớn ở Mỹ: công ty AI phải dùng nội dung có được hợp pháp để huấn luyện, còn nội dung AI sinh ra sau đó vẫn không có bản quyền.

GS Rory Patrick McGreal nhấn mạnh: Con người và AI hoàn toàn có thể cộng sinh với nhau. Ảnh: Hà Tuấn Khai báo và trách nhiệm
GS. Rory McGreal cho rằng, dùng AI không phải đạo văn vì lượng thông tin lấy là không đáng kể; sao chép một người là đạo văn, sao chép nhiều người gọi là nghiên cứu.
Nhưng việc dùng AI mà giấu thì hoàn toàn có thể coi là gian lận. Ông truyền tải thông điệp rằng cứ dùng AI, nhưng hãy khai báo. Các nhà xuất bản không cho ghi AI là tác giả mà yêu cầu khai báo; bài gốc và bổ sung tri thức thì vẫn được chấp nhận.
Ông mô tả quan hệ giữa người và AI là cộng sinh, hiệp lực: đầu ra phụ thuộc vào đầu vào, tác giả phải thẩm định kĩ và chịu trách nhiệm cuối cùng, AI không được là người ra quyết định. Với lo ngại lệ thuộc, ông cho rằng con người luôn lệ thuộc công nghệ, từ máy tính đến xe máy.
Thiên kiến và thông tin sai lệch
AI có thiên kiến vì tri thức trong đó là của con người. Theo ông, giải pháp là truy cập mở để cá nhân và cộng đồng tự quyết, chẳng hạn yêu cầu AI chỉ dùng nguồn châu Á hay trả lời “từ góc nhìn Việt Nam”, đồng thời nói không với kiểm duyệt. Ông phân biệt thông tin cố ý bịa đặt, thông tin sai nhưng người nói tin là thật, và thông tin đúng nhưng chính phủ, doanh nghiệp không muốn công bố. Vấn đề, theo ông, nằm ở quảng cáo và những sai lệch bị cài có chủ đích; tính mở là chìa khóa chống lại sự kiểm soát, khóa chặt của nhà cung cấp.

Phản biện các chỉ trích
Về việc AI thiếu đồng cảm, sáng tạo hay hiểu biết, ông cho rằng đó cũng là vấn đề của con người. Ông dẫn một nghiên cứu ở London School of Economics, theo đó người tham gia thích trò chuyện với tác tử hội thoại vì không bị phán xét. Ông cũng kể một thí nghiệm trong đó 10 chuyên gia chê một bức tranh của Manet khi được báo là do AI tạo ra, dù đó là tranh thật. Ông nói 99,99% văn bản không phải văn bản sáng tạo, và nên đánh giá văn bản chứ không đánh giá người viết.
Nguy cơ thực sự
Theo ông, nguy cơ lớn hơn là chỉ vài chục “tài phiệt” đang kiểm soát AI, đặt lợi nhuận trên đạo đức, thiếu minh bạch, độc quyền tri thức và lạm dụng dữ liệu. Điều thay thế con người sẽ là họ chứ không phải AI. Ông đề nghị thay vì chính sách “con người trong vòng lặp”, cần chính sách “AI trong vòng lặp” để giúp con người học, nghĩ và sáng tạo hiệu quả, an toàn hơn.
-
23/10/2026 09:20 Phim phóng sự: Bình đẳng hóa tri thức - Từ rào cản đến tương lai mở
Phóng sự khái quát về hiện trạng giáo dục mở trên thế giới và kinh nghiệm từ các nước. Giáo dục đại học toàn cầu đang trải qua đợt chuyển mình mang tính bước ngoặt. Sự phát triển vượt bậc của các hệ sinh thái kỹ thuật số và công nghệ số hóa đã mở ra những không gian học tập chưa từng có trong lịch sử. Thế nhưng, đằng sau diện mạo hiện đại đó là một khoảng trống nhức nhối về sự bất bình đẳng. Chi phí bản quyền giáo trình gia tăng, rào cản ngôn ngữ, cùng sự chênh lệch về hạ tầng kỹ thuật số vẫn đang khép lại cơ hội tiếp cận tri thức chất lượng cao của hàng triệu người học yếu thế.
Kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy, hợp tác xuyên biên giới trong việc chia sẻ tài nguyên số là con đường ngắn nhất để thu hẹp khoảng cách tri thức giữa các nền giáo dục. Tại Việt Nam, giáo dục đại học đang bước vào giai đoạn then chốt: chuyển dịch từ việc hoạch định chính sách sang triển khai thực thi thực tiễn và bền vững. Với vai trò trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng đầu, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) cùng các tổ chức nghiên cứu đang chủ động xây dựng hệ sinh thái tri thức mở, đưa OER vào từng giảng đường.
Khi những rào cản tri thức được dỡ bỏ, những cánh cửa tương lai sẽ rộng mở. Một hệ thống giáo dục đại học công bằng, bao trùm và bền vững tại Việt Nam cũng như toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang dần hiện hữu - bắt đầu từ chính những nỗ lực kết nối và chia sẻ không ngừng nghỉ của ngày hôm nay.
-
23/10/2026 09:10 PGS.TS. Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương: Giáo dục mở phải giúp thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức
Phát biểu tại Hội thảo OpenAP 2026, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh, trong bối cảnh tri thức và công nghệ lan tỏa với tốc độ chưa từng có, xã hội vẫn phải đối mặt với những thách thức như khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng trong tiếp cận tri thức và nguy cơ gia tăng “đứt gãy số” trong giáo dục.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu tại Hội thảo OpenAP 2026. Ảnh: Hà Tuấn Theo đó, “tương lai mở” không đơn thuần là một khẩu hiệu hay xu hướng học thuật, mà là cam kết mang tính chiến lược về một nền giáo dục không rào cản. Trong đó, tài nguyên tri thức được chia sẻ tự do, các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI) và giáo dục số được ứng dụng nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức, thay vì làm sâu sắc thêm sự khác biệt giữa các nhóm người học.
Ông cho rằng, một nền giáo dục đại học chỉ thực sự mở khi bảo đảm được tính công bằng và bao trùm. Điều này đòi hỏi mọi cá nhân, không phân biệt hoàn cảnh kinh tế, giới tính hay địa lý, đều có cơ hội phù hợp để tiếp cận và thành công ở bậc đại học; đồng thời xây dựng môi trường học thuật tôn trọng sự đa dạng, không để ai bị bỏ lại phía sau.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt: Giáo dục không chỉ là con đường truyền thụ tri thức mà còn là công cụ quan trọng để kiến tạo một xã hội công bằng, nhân văn và thịnh vượng. Ảnh: Hà Tuấn Đặt vấn đề từ thực tiễn Việt Nam, ông Huỳnh Thành Đạt nêu những câu hỏi về khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên học thuật chất lượng của sinh viên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nguy cơ chi phí giáo dục trở thành gánh nặng đối với người học và yêu cầu ứng dụng công nghệ số gắn với tính nhân văn, bảo đảm cơ hội cho các nhóm yếu thế.
Theo ông, giải quyết những vấn đề này cần có sự phối hợp giữa Nhà nước, các cơ sở giáo dục, tổ chức xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Ông kỳ vọng hội thảo sẽ góp phần nhận diện những rào cản về thể chế, tài chính và công nghệ đối với giáo dục đại học công bằng, bao trùm; chia sẻ các mô hình giáo dục mở, học liệu mở và đề xuất những khuyến nghị chính sách có giá trị thực tiễn cho Việt Nam cũng như các quốc gia trong khu vực.
Ông Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh giáo dục không chỉ là con đường truyền thụ tri thức mà còn là công cụ quan trọng để kiến tạo một xã hội công bằng, nhân văn và thịnh vượng.

-
23/10/2026 09:00 TS. Trần Văn Tùng: Tri thức mở và AI phải phục vụ sự phát triển công bằng, bao trùm
TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày bài phát biểu quan trọng về chiến lược phát triển giáo dục mở, khoa học mở và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giai đoạn mới.

TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Tinh thần cốt lõi của giáo dục mở trong kỷ nguyên số và AI
Mở đầu bài phát biểu, thay mặt Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam , TS. Trần Văn Tùng gửi lời chào trân trọng và chúc mừng tới toàn thể hội thảo. Ông nhấn mạnh OpenAP 2026 là một diễn đàn có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đặc biệt là trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những chuyển dịch sâu sắc đối với giáo dục, nghiên cứu khoa học cũng như phương thức tiếp cận và chia sẻ tri thức.
Phân tích về bối cảnh hiện nay, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết tri thức đang trở thành nguồn lực ngày càng quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số và AI mở ra cơ hội chưa từng có để mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, kết nối cộng đồng học thuật vượt qua giới hạn không gian, thời gian và biên giới.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội là những thách thức về khoảng cách số, bất bình đẳng trong tiếp cận tri thức, chất lượng thông tin, cùng các vấn đề về đạo đức, bản quyền và trách nhiệm khi sử dụng công nghệ.
"Tinh thần của giáo dục mở không chỉ nằm ở việc tạo điều kiện để tri thức được tiếp cận rộng rãi hơn, mà còn ở việc bảo đảm mọi người có cơ hội sử dụng, sáng tạo và đóng góp tri thức cho cộng đồng," TS. Trần Văn Tùng khẳng định. Ông cho rằng đây cũng chính là ý nghĩa sâu sắc của chủ đề Hội thảo 2026: hướng tới một tương lai giáo dục công bằng hơn, bao trùm hơn, nơi thành tựu khoa học công nghệ thực sự phục vụ con người và sự phát triển của xã hội.
Gắn kết định hướng chiến lược quốc gia và cam kết của VASTI
Đề cập đến thực tiễn tại Việt Nam, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết việc phát triển giáo dục mở và khoa học mở đang gắn bó chặt chẽ với các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước.

TS Trần Văn Tùng: Việt Nam cần trở thành một đối tác tích cực trong sáng tạo, chia sẻ và lan tỏa tri thức trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Ảnh: Hà Tuấn Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) và Nghị quyết số 71-NQ/TW (về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo) đã tạo ra những định hướng quan trọng để xây dựng nền giáo dục hiện đại, mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và nâng cao năng lực số, năng lực AI.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, TS. Trần Văn Tùng cho rằng cần sự tham gia tích cực của các tổ chức khoa học công nghệ, hội nghề nghiệp, doanh nghiệp và cộng đồng chuyên gia bên cạnh nỗ lực của các cơ sở giáo dục.
Với vai trò là tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong lĩnh vực thông tin KH&CN, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định việc kết nối cộng đồng chuyên môn, thúc đẩy phổ biến, chia sẻ và khai thác hiệu quả thông tin KH&CN là những định hướng hoạt động trọng tâm. Hội mong muốn tiếp tục làm cầu nối giữa các nhà khoa học, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức thông tin - thư viện, doanh nghiệp và đối tác quốc tế.
Đặc biệt, Hội chú trọng thúc đẩy xây dựng các nguồn tài nguyên tri thức mở, nâng cao năng lực thông tin, năng lực số, năng lực AI và khuyến khích ứng dụng công nghệ có trách nhiệm, hướng tới lợi ích chung. Ông nhấn mạnh việc phát triển hệ sinh thái tri thức mở không thể là nỗ lực riêng lẻ của một cơ sở mà cần sự liên kết, đồng hành của toàn bộ cộng đồng KH&CN.
Khẳng định vị thế mới của Việt Nam và giá trị đích thực của công nghệ
TS. Trần Văn Tùng đánh giá cao việc OpenAP 2026 tạo ra diễn đàn kết nối giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm, tiếp cận mô hình mới và tìm kiếm giải pháp phù hợp với thực tiễn mỗi quốc gia.
Đáng chú ý, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam không chỉ cần chủ động tiếp nhận các thành tựu tri thức thế giới, mà còn cần đóng góp ngày càng nhiều hơn các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm và sáng kiến của mình vào kho tàng tri thức chung của nhân loại. Việt Nam cần trở thành một đối tác tích cực trong sáng tạo, chia sẻ và lan tỏa tri thức trên phạm vi khu vực và toàn cầu.
Kết thúc bài phát biểu, TS. Trần Văn Tùng nhấn mạnh giá trị cốt lõi của công nghệ trong giáo dục:
"Một tương lai giáo dục mở không chỉ được đo bằng số lượng tài nguyên số, những nền tảng công nghệ hay các công cụ AI, mà quan trọng hơn là khả năng để mọi người được tiếp cận tri thức có chất lượng, được phát triển năng lực và được tham gia vào quá trình sáng tạo, chia sẻ tri thức."
Thay mặt Hội, ông gửi lời cảm ơn trân trọng tới Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), các đơn vị đồng tổ chức, các đối tác cùng toàn thể các nhà khoa học đã chung tay tạo nên một diễn đàn học thuật ý nghĩa, đồng thời chúc hội thảo thành công tốt đẹp.
-
23/10/2026 08:50 GS.TS Hoàng Anh Tuấn: Giáo dục mở không chỉ là mở quyền tiếp cận tri thức, mà là mở ra cơ hội cho con người đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn
Phát biểu khai mạc, GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, giáo dục đại học đang chuyển đổi sâu sắc khi công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các hình thức chia sẻ tri thức mới thay đổi cách dạy, học, nghiên cứu và hợp tác. Tri thức dễ tiếp cận hơn bao giờ hết, nhưng không phải sinh viên nào cũng có điều kiện ngang nhau về công nghệ, học liệu chất lượng và cơ hội phát triển kĩ năng.

GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Hà Tuấn Vì vậy, chủ đề hội thảo vừa kịp thời vừa quan trọng: tương lai giáo dục đại học không chỉ cần số hóa hay hiện đại hơn, mà còn phải công bằng, bao trùm, hợp tác và lấy con người làm trung tâm.
Là trường khoa học xã hội và nhân văn, nhà trường quan niệm giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức hay rèn kĩ năng kĩ thuật, mà còn bồi dưỡng tư duy phản biện, sáng tạo, trách nhiệm đạo đức, hiểu biết văn hóa và khả năng đóng góp cho xã hội. Những giá trị này càng quan trọng trong kỉ nguyên AI.
Công nghệ giúp vượt qua rào cản nhưng không thể tự bảo đảm sự công bằng. Tài nguyên giáo dục mở giúp mở rộng tiếp cận tri thức, song hòa nhập thực sự đòi hỏi người học có kĩ năng và cơ hội để sử dụng hiệu quả các tài nguyên đó, tư duy phản biện và tạo ra tri thức mới.

GS.TS Hoàng Anh Tuấn: Tương lai của giáo dục mở không chỉ là mở quyền tiếp cận tri thức, mà là mở ra khả năng để mọi người học tập, hợp tác, đổi mới và đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn. Ảnh: Hà Tuấn GS.TS Hoàng Anh Tuấn cho biết, việc đăng cai OpenAP 2026 thể hiện cam kết của nhà trường với đổi mới giáo dục, hợp tác học thuật quốc tế và chia sẻ tri thức rộng rãi hơn. Các trường đại học không nên làm việc đơn lẻ mà cần là thành viên chủ động của cộng đồng học thuật toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ, hệ thống giáo dục và trình độ công nghệ, nhưng chung khát vọng làm cho giáo dục chất lượng dễ tiếp cận, công bằng và bao trùm hơn.
Ông hi vọng các thảo luận không dừng ở chia sẻ kết quả nghiên cứu và nhận diện thách thức, mà gợi mở ý tưởng mới, các sáng kiến nghiên cứu chung, mạng lưới học thuật vững chắc hơn và quan hệ đối tác dài hạn. Ông khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ và sinh viên tích cực tham gia, đồng thời cảm ơn các đơn vị đồng tổ chức, đối tác học thuật, ban khoa học, ban tổ chức, diễn giả và phản biện.
GS.TS Hoàng Anh Tuấn gửi gắm thông điệp: tương lai của giáo dục mở không chỉ là mở quyền tiếp cận tri thức, mà là mở ra khả năng để mọi người học tập, hợp tác, đổi mới và đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn.
-
23/10/2026 08:30 Khai mạc Hội thảo Giáo dục mở châu Á - Thái Bình Dương 2026 (OpenAP 2026)
Hội thảo Giáo dục mở châu Á - Thái Bình Dương 2026 (OpenAP 2026) với chủ đề “Open Futures: Empowering Fair and Inclusive Higher Education in the Asia-Pacific” (Tương lai mở: Thúc đẩy giáo dục đại học công bằng và bao trùm tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương) đang diễn ra sáng nay 23/10 tại Hà Nội.

Hội thảo Giáo dục mở châu Á - Thái Bình Dương 2026 (OpenAP 2026) trước giờ khai mạc. Ảnh: Duy Quân Hội thảo do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, phối hợp cùng Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), Tạp chí Một Thế Giới và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) phối hợp tổ chức, tạo diễn đàn trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục mở.

Hội thảo có sự tham dự của PGS.TS. Huỳnh Thành Đạt – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo; TS. Đặng Văn Huấn – Phó Cục trưởng Cục Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo; PGS. TS Phạm Ngọc Linh - Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam; TS. Trần Văn Tùng – Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; nhà báo Lưu Quang Định – Tổng Thư ký VASTI, Tổng Biên tập Tạp chí Một Thế Giới; PGS.TS. Ngô Hồng Sơn – Chủ tịch Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA); TS. Nguyễn Thị Anh Thu – Phó Hiệu trưởng Trường ĐẠi học Y Dược, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á, ĐHQGHN; GS.TS. Hoàng Anh Tuấn – Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN; cùng lãnh đạo, đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức khoa học – nghề nghiệp, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp công nghệ.


Không gian quốc tế của OpenAP 2026 được tạo nên bởi sự tham dự của các học giả, chuyên gia đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có GS. Rory McGreal – Đại học Athabasca, Canada, Chủ tịch UNESCO về Tài nguyên Giáo dục Mở; TS. Igor Lesko – Đồng Giám đốc Điều hành Open Education Global; PGS. Yu-Lun Huang – Đại học Quốc lập Dương Minh Giao Thông, Đài Loan; GS. Robert Farrow – Đại học Mở, Vương quốc Anh; TS. Rebecca Pitt – Đại học Mở, Vương quốc Anh, Đồng Giám đốc Mạng lưới Sau đại học OER Toàn cầu (GO-GN); TS. Trương Ngọc Tường Vi – Đại học Melbourne, Australia; cùng các đại biểu đến từ Australia, Hoa Kỳ, Đài Loan, Philippines và nhiều quốc gia khác.


Về phía Khoa Quản trị thông tin, tham dự hội thảo có Ban Chủ nhiệm Khoa, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh và đông đảo sinh viên. Sự kiện cũng nhận được sự quan tâm của Đài Truyền hình Việt Nam và hơn 30 cơ quan báo chí, truyền thông, góp phần đưa những thảo luận về giáo dục mở, OER, AI và công bằng tri thức tới cộng đồng rộng lớn hơn.

