-
17/07/2026 11:37 TS. Trần Văn Tùng phát biểu bế mạc hội thảo
TS.Trần Văn Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), khẳng định hội thảo đã hoàn thành mục tiêu đề ra, trở thành diễn đàn đối thoại cởi mở giữa cơ quan quản lí, giới khoa học và cộng đồng doanh nghiệp nhằm thảo luận các giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

TS.Trần Văn Tùng phát biểu bế mạc hội thảo Các tham luận và ý kiến trao đổi đã cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng ngành năng lượng Việt Nam. Đồng thời, đề xuất nhiều giải pháp thiết thực liên quan đến hoàn thiện cơ chế chính sách, phát triển hạ tầng. Đa dạng hóa nguồn cung, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lí, vận hành hệ thống năng lượng.
Một nội dung nổi bật của hội thảo là tọa đàm về cơ hội và thách thức từ làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu và AI.
Các ý kiến thống nhất rằng: Để tận dụng cơ hội trở thành điểm đến của các dự án công nghệ cao, Việt Nam cần xây dựng hệ thống năng lượng đủ mạnh, ổn định, thông minh và bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng của nền kinh tế số.
TS.Trần Văn Tùng nhấn mạnh rằng: Bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030 không chỉ đòi hỏi thêm nguồn điện và vốn đầu tư, mà cần xây dựng hệ sinh thái hợp tác hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học. Trong đó, cơ chế chính sách cần dựa trên cơ sở khoa học, môi trường đầu tư phải minh bạch, ổn định và các kết quả nghiên cứu cần được chuyển hóa thành giải pháp phục vụ thực tiễn.
VASTI cam kết tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý; thúc đẩy chia sẻ tri thức, đối thoại chính sách và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực năng lượng.
Cuối cùng, VASTI sẽ tổng hợp các kiến nghị, đề xuất từ hội thảo để gửi tới các cơ quan có thẩm quyền, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển bền vững ngành năng lượng Việt Nam trong thời gian tới.
-
17/07/2026 11:15 Thách thức trong khơi thông nguồn lực cho AI Data Center
Tiếp tục phiên tọa đàm, nhà bảo Thẩm Hồng Thụy đặt câu hỏi về những thách thức trong việc bảo đảm nguồn điện cho các AI Data Center khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.
Trả lời vấn đề này, ông Bùi Trung Kiên, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) cho biết hệ thống điện của TP.HCM hiện có khả năng cung cấp phụ tải cực đại khoảng 10.000 MW và trong tương lai có thể nâng lên 12.000 MW. Vì vậy, việc đáp ứng nhu cầu khoảng 200 MW cho các trung tâm dữ liệu trong giai đoạn đầu không phải là trở ngại lớn.
.jpg)
Ông Sang Trần phát biểu tại phiên tọa đàm. Tuy nhiên, theo ông Kiên, bài toán không chỉ nằm ở tổng công suất mà còn ở việc bảo đảm chất lượng và độ tin cậy của nguồn điện. Các AI Data Center yêu cầu nguồn điện liên tục, ổn định gần như tuyệt đối, do đó việc đầu tư hệ thống truyền tải, nguồn điện dự phòng và hạ tầng đấu nối phải được triển khai đồng bộ. Ông nhấn mạnh, để đáp ứng yêu cầu này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành điện, chính quyền địa phương và nhà đầu tư, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng lưới điện phục vụ các dự án.
Ở góc độ doanh nghiệp công nghệ, ông Sang Trần, Giám đốc Trung tâm Phát triển dịch vụ Hạ tầng Cloud, FPT Smart Cloud, cho rằng một trong những thách thức lớn của AI Data Center là hiệu suất sử dụng năng lượng. Theo ông, mức hao phí năng lượng tại các trung tâm dữ liệu ở Việt Nam hiện chỉ ở mức trung bình so với thế giới. Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới, các Data Center phải tiêu tốn lượng điện rất lớn cho hệ thống làm mát.
.jpg)
Quang cảnh tại buổi tọa đàm. Trong khi nhiều trung tâm dữ liệu tiên tiến trên thế giới đã chuyển sang công nghệ làm mát bằng chất lỏng (liquid cooling), phần lớn các Data Center trong nước vẫn sử dụng phương pháp làm mát bằng không khí, khiến hiệu quả sử dụng điện chưa cao. Nếu sớm ứng dụng các công nghệ làm mát tiên tiến, Việt Nam sẽ tiết kiệm đáng kể điện năng và nâng cao hiệu quả vận hành các trung tâm dữ liệu.
Đồng quan điểm, GS.TSKH. Từ Trung Chấn, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Công nghệ cao ASIAN, cho biết nhu cầu điện của AI Data Center rất lớn trong khi mức tổn hao năng lượng hiện vẫn còn cao, với chỉ số PUE (Power Usage Effectiveness) khoảng 1,4-1,6. Theo ông, đây là mức cần tiếp tục được cải thiện để nâng cao hiệu quả vận hành. Ông cảnh báo, nếu không bảo đảm nguồn điện ổn định và giảm được tổn hao năng lượng, các trung tâm dữ liệu không chỉ suy giảm hiệu suất mà còn đối mặt với nguy cơ quá nhiệt, ảnh hưởng đến độ an toàn và tính liên tục của hệ thống.
-
17/07/2026 10:50 Những cơ hội nào khi đón làn sóng AI Data Center vào Việt Nam?
Mở đầu phiên thảo luận, nhà báo Thẩm Hồng Thụy đặt câu hỏi: "Việt Nam sẽ có những cơ hội nào khi đón làn sóng đầu tư AI Data Center?". Các diễn giả đều thống nhất nhận định rằng cơ hội đang lớn hơn nhiều so với thách thức. Theo các chuyên gia, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế về vị trí địa lý, tốc độ phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực và chính sách thu hút đầu tư. Nếu chuẩn bị tốt về hạ tầng năng lượng, hạ tầng số và môi trường đầu tư, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành điểm đến của các dự án trung tâm dữ liệu quy mô lớn trong khu vực.

Ông Võ Xuân Vinh (phải) phát biểu tại phiên tọa đàm. Trả lời câu hỏi "EVNHCMC chuẩn bị như thế nào để đón làn sóng AI Data Center?", ông Bùi Trung Kiên, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) cho biết ngành điện đã tính toán đến nhu cầu cấp điện rất lớn cho các trung tâm dữ liệu. Trước mắt, thành phố cần chuẩn bị nguồn điện khoảng 200 MW cho các dự án AI Data Center. Tuy nhiên, theo ông Bùi Trung Kiên, thách thức không chỉ nằm ở việc đáp ứng công suất này mà còn phải đầu tư nguồn điện dự phòng nhằm bảo đảm cấp điện liên tục 24/7. Về dài hạn, nhu cầu có thể lên tới 1.000 MW, đòi hỏi quy hoạch và đầu tư hạ tầng điện phải đi trước một bước.

Nhà báo Thẩm Hồng Thụy. Ở câu hỏi về vai trò của năng lượng tái tạo đối với AI Data Center, ông Trần Quốc Tâm, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM, nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển điện gió và điện mặt trời. Đặc biệt, với sự phát triển của công nghệ lưu trữ năng lượng BESS (Battery Energy Storage System), nguồn điện từ năng lượng tái tạo có thể được tích trữ và cung cấp ổn định cho các trung tâm dữ liệu. Theo ông Trần Quốc Tâm, đây không chỉ là giải pháp đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam phát triển ngành công nghiệp năng lượng sạch và từng bước tham gia xuất khẩu năng lượng trong tương lai.

Một đại biểu có ý kiến phản biện tại phiên tọa đàm. -
17/07/2026 10:45 Bắt đầu phiên tọa đàm với chủ đề: “Đón sóng đầu tư AI Data Center: Cơ hội bứt phá hay thách thức hạ tầng năng lượng?”
Sau phần báo cáo tham luận, Hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng” chuyển sang phiên tọa đàm với chủ đề: “Đón sóng đầu tư AI Data Center: Cơ hội bứt phá hay thách thức hạ tầng năng lượng?”.

Các đại biểu tham gia phiên tọa đàm. Phiên tạo đàm do nhà báo Thẩm Hồng Thụy - BTV Tạp chí Một Thế Giới, điều phối với sự tham gia của các khách mời:
Ông Bùi Trung Kiên – Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM - EVNHCMC.
GS.TSKH. Từ Trung Chấn - Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Công nghệ cao ASIAN.
GS.TS Võ Xuân Vinh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh, thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM.
Ông Trần Quốc Tâm – Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM - HCMREA.
Ông Sang Trần - Giám đốc Trung tâm Phát triển dịch vụ Hạ tầng Cloud - FPT Smart Cloud - Tập đoàn FPT.

Phiên tọa đàm với 5 diễn giả tham dự. 
Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng phát biểu ý kiến tại phiên tọa đàm. -
17/07/2026 10:30 Ông Trần Quốc Tâm – Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM trình bày tham luận.
Ông Trần Quốc Tâm – Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM trình bày tham luận Vai trò của năng lượng tái tạo và BESS trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số & Net Zero.

Ông Trần Quốc Tâm – Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 2 con số trong những năm tới. Và, hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam cần một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực năng lượng. Trong đó, năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) đóng vai trò trung tâm.
Theo ông Trần Quốc Tâm, hệ thống điện Việt Nam đang phải đối mặt cùng lúc, với nhiều thách thức như: Nhu cầu điện tăng 12-13% mỗi năm để phục vụ tăng trưởng kinh tế; sự bùng nổ của xe điện; các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), cùng những bất ổn địa chính trị toàn cầu có thể gây ra khủng hoảng năng lượng. Trong khi đó, nhiều dự án điện khí LNG, điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân khó có thể hoàn thành đúng tiến độ trước năm 2030.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện của Việt Nam phải tăng từ khoảng 87.600 MW hiện nay lên 183.291 MW vào năm 2030 trong kịch bản cơ sở; hoặc, lên tới 236.363 MW trong kịch bản tăng trưởng cao. Điều này đồng nghĩa hệ thống điện phải tăng quy mô từ hơn 2 lần đến gần 3 lần chỉ trong vài năm tới.
Ông Trần Quốc Tâm cho rằng năng lượng tái tạo sẽ là nguồn lực quan trọng nhất để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng này. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện mặt trời có thể đạt từ 46.459 MW đến hơn 73.000 MW vào năm 2030. Trong khi điện gió trên bờ, gần bờ và ngoài khơi cũng tăng mạnh. Việt Nam sở hữu tiềm năng kỹ thuật rất lớn với khoảng 963 GW điện mặt trời, 221 GW điện gió trên bờ và gần bờ, cùng khoảng 600 GW điện gió ngoài khơi.
Tuy nhiên, năng lượng tái tạo chỉ có thể phát huy hết tiềm năng nếu đi kèm với hệ thống lưu trữ năng lượng. Báo cáo chỉ ra rằng lưới điện hiện nay vẫn vận hành theo nguyên tắc cân bằng tức thời giữa cung và cầu do chưa có đủ năng lực lưu trữ điện ở quy mô lớn. Đây là điểm nghẽn lớn đối với việc phát triển điện gió và điện mặt trời.
Theo ông Trần Quốc Tâm, BESS chính là “chìa khóa vạn năng” của hệ thống năng lượng hiện đại. Công nghệ pin không chỉ là nền tảng của xe điện, mà còn là thành phần cốt lõi của lưới điện thế kỷ XXI. BESS có thể hoạt động như một “ngân hàng năng lượng”, tích trữ điện khi giá rẻ và phát điện khi nhu cầu tăng cao; cung cấp công suất đỉnh; điều chỉnh tần số; làm mượt nguồn điện tái tạo và hỗ trợ vận hành hệ thống điện ổn định hơn. Một số dự án BESS quy mô lớn trên thế giới hiện đã đạt công suất hàng nghìn MW.
Để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo và BESS, ông Trần Quốc Tâm đề xuất nhiều giải pháp chính sách. Trong đó có việc hoàn thiện cơ chế giá điện theo thời gian sử dụng (TOU), tạo tín hiệu kinh tế để khuyến khích lưu trữ năng lượng và dịch chuyển phụ tải. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tín dụng xanh, ưu đãi lãi suất, miễn giảm thuế cho các dự án năng lượng sạch và hệ thống lưu trữ năng lượng.
Ông Trần Quốc Tâm kiến nghị ban hành cơ chế giá phù hợp để BESS tham gia thị trường điện, khuyến khích mô hình ESCO, cho thuê pin lưu trữ, phát triển các nhà máy điện ảo (Virtual Power Plant) và tiếp tục hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh nhằm huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư hạ tầng năng lượng.
Theo ông Trần Quốc Tâm, Việt Nam không thiếu tài nguyên năng lượng tái tạo cũng như công nghệ để khai thác các nguồn năng lượng này. Điều cần thiết hiện nay là một hệ thống chính sách và cơ chế thị trường đủ mạnh để thúc đẩy đầu tư, giúp năng lượng tái tạo và BESS trở thành nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu Net Zero trong những thập niên tới.
-
17/07/2026 10:22 TP.HCM đặt mục tiêu gần 2.800 MW điện mặt trời mái nhà vào năm 2030
Theo Phan Quang Vinh, Phó trưởng Ban Kinh doanh tại Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC): TP.HCM đang đẩy mạnh phát triển điện mặt trời mái nhà nhằm đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, giảm áp lực lên hệ thống điện và thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng xanh.

Ông Phan Quang Vinh trình bày tham luận Theo báo cáo của EVNHCMC, sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM mới tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế cả nước với mức tiêu thụ điện rất lớn. Năm 2025, sản lượng điện thương phẩm của khu vực đạt 56,1 tỉ kWh, công suất phụ tải cực đại lên tới 8.936 MW và phục vụ khoảng 3,91 triệu khách hàng sử dụng điện.
Nhu cầu điện của thành phố được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới. Theo các kịch bản quy hoạch, sản lượng điện thương phẩm có thể đạt khoảng 75 tỉ kWh vào năm 2030, tăng đáng kể so với hiện nay.
Để đáp ứng nhu cầu này, điện mặt trời mái nhà được xem là một trong những giải pháp quan trọng. Hiện TP.HCM có hơn 25.900 hệ thống điện mặt trời mái nhà, thuộc nhiều cơ chế khác nhau, với tổng công suất lắp đặt khoảng 1.928 MWp. Sản lượng điện phát trung bình đạt khoảng 231 triệu kWh mỗi tháng, tương đương 4,4% sản lượng điện thương phẩm của toàn hệ thống. Tổng công suất lắp đặt điện mặt trời mái nhà hiện tương đương khoảng 21,6% công suất phụ tải cực đại của hệ thống điện trên địa bàn.
Trong đó, các hệ thống điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ đang tăng trưởng rất nhanh. Chỉ trong giai đoạn từ năm 2025 đến 6 tháng đầu năm 2026, số lượng hệ thống đã tăng lên hơn 5.000, với tổng công suất gần 478 MWp.
Một dấu mốc đáng chú ý là dự án điện mặt trời theo cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đầu tiên tại TP.HCM, được triển khai tại Công ty TNHH Samsung Electronics HCMC CE Complex (SEHC) trong Khu Công nghệ cao TP.HCM. Dự án có công suất gần 28 MWp với khoảng 45.000 tấm pin quang điện, dự kiến sản xuất 40.000 MWh điện sạch mỗi năm và giảm khoảng 26.000 tấn khí thải CO₂ mỗi năm.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện mặt trời mái nhà của TP.HCM được định hướng tăng mạnh trong giai đoạn tới. Đến năm 2030, tổng quy mô điện mặt trời mái nhà trên địa bàn thành phố mới có thể đạt khoảng 2.786 MW, trong đó Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đóng góp phần lớn công suất mới.
Báo cáo cũng cho biết Nghị định 243/2026/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng được phát triển điện mặt trời mái nhà, đơn giản hóa thủ tục đăng ký và cho phép nhiều nhóm khách hàng bán phần điện dư phát lên lưới. Quy định mới được kì vọng sẽ tạo động lực mạnh hơn cho việc đầu tư điện mặt trời trong khu dân cư, doanh nghiệp và các công trình công cộng.
EVNHCMC kiến nghị khuyến khích người dân và doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng điện, giảm áp lực lên lưới điện và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng cho thành phố trong dài hạn.
-
17/07/2026 10:00 PGS.TS Phạm Xuân Mai trình bày tham luận
Tiếp nối phần báo cáo tham luận, PGS, TS. Phạm Xuân Mai - Cố vấn cấp cao Công ty Kim Long Motor Huế - tham luận “Từ nhà máy sản xuất ô tô đến hệ sinh thái năng lượng thông minh – Vai trò của doanh nghiệp công nghiệp trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”.

PGS,TS. Phạm Xuân Mai - Cố vấn cấp cao tại Công ty Kim Long Motor Huế Theo PGS,TS. Phạm Xuân Mai, thế giới đang chuyển từ môi trường VUCA (biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ) sang trạng thái BANI (mong manh, lo âu, phi tuyến tính và khó dự đoán), khiến các quốc gia phải xây dựng hệ thống năng lượng có khả năng chống chịu cao hơn trước những cú sốc kinh tế, công nghệ và địa chính trị.
Trong bối cảnh đó, an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng kinh tế mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về ổn định nguồn cung, chi phí cạnh tranh, phát triển xanh và từng bước làm chủ công nghệ cũng như chuỗi cung ứng năng lượng.
Bài tham luận đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngành ô tô trong chiến lược an ninh năng lượng. Theo đó, ngành ô tô nằm ở giao điểm của bốn lĩnh vực gồm công nghiệp, giao thông, năng lượng và công nghệ số. Quá trình điện hóa giao thông có thể giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đồng thời biến xe điện từ phương tiện tiêu thụ điện thành tài sản lưu trữ năng lượng cho hệ thống điện quốc gia.
Khi xe điện phát triển, nhu cầu năng lượng sẽ chuyển từ xăng dầu sang điện năng sản xuất trong nước. Các bộ pin xe điện và hệ thống lưu trữ năng lượng có thể hỗ trợ tích hợp điện gió, điện mặt trời và giảm áp lực nhập khẩu nhiên liệu. Công nghệ sạc thông minh, điều chỉnh phụ tải và sạc hai chiều (Vehicle-to-Grid) cũng cho phép xe điện tham gia cân bằng lưới điện và hỗ trợ vận hành hệ thống điện hiệu quả hơn.
Từ thực tiễn của Kim Long Motor, PGS,TS. Phạm Xuân Mai đề xuất mô hình "Hệ sinh thái năng lượng thông minh" gồm 5 lớp. Lớp đầu tiên là nhà máy xanh và thông minh, ứng dụng điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng, quản lý năng lượng bằng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để tối ưu tiêu thụ điện.
Lớp thứ hai là hệ sinh thái xe năng lượng mới, bao gồm xe buýt điện, xe tải điện, xe logistics điện và các giải pháp quản lý đội xe nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Lớp thứ ba là hạ tầng sạc được quy hoạch đồng bộ với nguồn điện, lưới điện và hệ thống lưu trữ năng lượng để tránh gây áp lực lên hệ thống điện quốc gia.
Hai lớp còn lại gồm chuỗi giá trị pin tuần hoàn và nền tảng dữ liệu - trí tuệ nhân tạo. Theo đó, pin xe điện cần được quản lý xuyên suốt vòng đời, từ sản xuất, sử dụng đến tái chế nhằm giảm phụ thuộc vào khoáng sản chiến lược và tăng tính tự chủ của chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, AI và dữ liệu sẽ đóng vai trò dự báo nhu cầu điện, tối ưu vận hành, kéo dài tuổi thọ pin và hỗ trợ điều độ phụ tải. Để khơi thông nguồn lực doanh nghiệp tham gia bảo đảm an ninh năng lượng. Báo cáo đề xuất năm nhóm giải pháp gồm: Tích hợp quy hoạch năng lượng, giao thông và công nghiệp; xây dựng cơ chế giá điện linh hoạt và điều chỉnh phụ tải; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia cho xe điện và pin; sử dụng đầu tư công để hình thành thị trường ban đầu cho phương tiện điện; đồng thời, đặt doanh nghiệp trong nước vào vị trí trung tâm của chuỗi giá trị công nghệ mới.
Theo PGS,TS. Phạm Xuân Mai, xe điện chỉ thực sự góp phần nâng cao an ninh năng lượng khi được triển khai đồng thời với quá trình xanh hóa nguồn điện, phát triển hạ tầng sạc thông minh, hệ thống lưu trữ năng lượng và làm chủ công nghệ cốt lõi. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn giảm nhập khẩu nhiên liệu, tăng khả năng hấp thụ năng lượng tái tạo và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Khép lại tham luận, ông cho rằng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030 đòi hỏi một tư duy mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và hạ tầng, còn doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp biến chiến lược thành năng lực sản xuất, công nghệ và chuỗi cung ứng thực tế. Một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng hoàn chỉnh sẽ không chỉ tạo ra phương tiện giao thông mà còn tạo ra năng lực lưu trữ năng lượng, năng lực công nghệ và khả năng chống chịu cho nền kinh tế trong dài hạn.
-
17/07/2026 09:46 Ông Đỗ Văn Năm (Tổng Công ty Điện lực miền Bắc): Nhu cầu điện tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc sẽ tăng mạnh đến 2030
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nhu cầu điện năng rất cao, đặt ra thách thức lớn với công tác bảo đảm cung ứng điện và phát triển hạ tầng năng lượng trong những năm tới.
Theo báo cáo của ông Đỗ Văn Năm (thành viên Hội đồng Thành viên tại Tổng công ty Điện lực miền Bắc) về nhu cầu năng lượng tại khu vực này giai đoạn 2026-2030, đến cuối năm 2025, 17 tỉnh, thành phố phía Bắc có khoảng 11,6 triệu khách hàng sử dụng điện, với sản lượng điện thương phẩm đạt 106,54 tỉ kWh. Giai đoạn 2021-2025, nhu cầu điện tăng trưởng bình quân 7,31% mỗi năm, phản ánh tốc độ phát triển kinh tế và công nghiệp mạnh mẽ của khu vực.
Sự phát triển đồng bộ của hạ tầng giao thông, các chính sách thu hút đầu tư. Đặc biệt là dòng vốn FDI, cùng nguồn nhân lực dồi dào đã giúp nhiều địa phương như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hưng Yên, trở thành những cực tăng trưởng mới của cả nước.

Ông Đỗ Văn Năm trình bày tham luận tại Hội thảo. Báo cáo cho thấy cơ cấu phụ tải điện đang chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa. Nhóm khách hàng công nghiệp - xây dựng và quản lý tiêu dùng hiện chiếm hơn 90% tổng sản lượng điện thương phẩm, trở thành động lực chính thúc đẩy nhu cầu điện của toàn vùng.
Trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng nhanh. Theo kịch bản cơ sở, sản lượng điện thương phẩm của khu vực sẽ đạt 160,67 tỉ kWh vào năm 2030, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân 8,56% mỗi năm. Công suất phụ tải cực đại (Pmax) dự kiến đạt khoảng 32.800 MW vào năm 2030.
Ở kịch bản tăng trưởng cao, sản lượng điện thương phẩm có thể đạt 165,5 tỉ kWh vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,21% mỗi năm. Thành phần phụ tải công nghiệp - xây dựng tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn, tạo áp lực đáng kể lên hệ thống điện và công tác bảo đảm nguồn cung.
Đáng chú ý, công suất phụ tải cực đại được dự báo tăng từ khoảng 21.500 MW hiện nay lên 32.800 MW vào năm 2030, tương ứng mức tăng trưởng bình quân 11 - 12% mỗi năm. Điều này cho thấy nhu cầu đầu tư nguồn điện và lưới điện sẽ gia tăng đáng kể trong thời gian tới.
Để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn, báo cáo đề xuất nhiều nhóm giải pháp đồng bộ. Trong đó, ngành điện dự kiến đầu tư mạnh vào hệ thống lưới điện với 537 dự án lưới điện 110kV, bổ sung khoảng 21.000 MVA công suất máy biến áp và xây dựng thêm 6.800 km đường dây 110kV.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về điện lực; nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống điện; thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS). Đồng thời, đẩy mạnh các chương trình điều chỉnh phụ tải và sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.
Theo đánh giá của báo cáo, bảo đảm nguồn điện cho vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc không chỉ là yêu cầu phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn là yếu tố then chốt để duy trì sức hấp dẫn đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, sản xuất và trung tâm dữ liệu đang mở rộng nhanh tại khu vực này.
-
17/07/2026 09:30 GS.TS Võ Xuân Vinh trình bày tham luận
Mở đầu phần báo cáo tham luận, GS.TS Võ Xuân Vinh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (IBR), thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM trình bày tham luận "An ninh năng lượng đến 2030: Thực trạng, thách thức và hàm ý chính sách cho Việt Nam".

GS.TS Võ Xuân Vinh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (IBR), thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM Theo GS.TS Võ Xuân Vinh, giai đoạn 2026-2030 sẽ là "cửa sổ cơ hội" mang tính quyết định, để Việt Nam giải quyết những điểm nghẽn tồn tại lâu nay của ngành điện.
Theo mô hình 4A của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), an ninh năng lượng được đo lường dựa trên bốn yếu tố gồm nguồn cung sẵn có (Availability), khả năng tiếp cận (Accessibility), giá cả hợp lí (Affordability) và tính chấp nhận được về môi trường - xã hội (Acceptability). Đánh giá theo bốn tiêu chí này cho thấy Việt Nam đang đối mặt với mức độ rủi ro cao ở hầu hết các khía cạnh.
Ba xu hướng toàn cầu được xác định đang tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng Việt Nam. Thứ nhất là sự tái cấu trúc địa chính trị năng lượng với các xung đột kéo dài tại Ukraine, Trung Đông và các điểm nghẽn hàng hải chiến lược như eo biển Hormuz hay Biển Đỏ. Những biến động này có thể làm gián đoạn nguồn cung LNG và than nhập khẩu, đồng thời đẩy giá nhiên liệu tăng mạnh.
Thứ hai là làn sóng bùng nổ AI và trung tâm dữ liệu. Nhu cầu điện của các trung tâm dữ liệu trên toàn cầu được dự báo sẽ tăng hơn gấp đôi vào năm 2030, tạo áp lực lớn lên hệ thống điện. Tại Việt Nam, công suất các trung tâm dữ liệu dự kiến tăng từ khoảng 525 MW hiện nay, lên gần 1.000 MW vào năm 2030.

Một góc quảng cảnh tại Hội thảo An ninh năng lượng. Xu hướng thứ ba là áp lực chuyển dịch năng lượng nhằm thực hiện cam kết Net Zero. Trong khi đó, nhu cầu điện thương phẩm của Việt Nam vẫn được dự báo tăng 10 - 12% mỗi năm; khiến việc cân bằng giữa mục tiêu khí hậu và bảo đảm nguồn cung điện trở thành bài toán ngày càng khó khăn.
Dù năng lượng tái tạo phát triển nhanh trong những năm gần đây. Điện than vẫn giữ vai trò chủ lực trong hệ thống điện quốc gia. Đến quý 1/2026, điện than chiếm tới 56,5% sản lượng phát điện thực tế. Trong khi đó, nhiều dự án điện gió và điện mặt trời phải cắt giảm công suất, do hệ thống truyền tải chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn điện mới.
Một vấn đề khác là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nhiên liệu nhập khẩu. Điều này khiến an ninh năng lượng Việt Nam trở nên nhạy cảm hơn, trước các biến động của thị trường quốc tế.
Theo Giáo sư Võ Xuân Vinh, nút thắt nghiêm trọng nhất hiện nay nằm ở khía cạnh tài chính. Giá điện bán lẻ được duy trì ở mức thấp trong thời gian dài, khiến EVN liên tục thua lỗ. Điều này làm suy giảm khả năng đầu tư mở rộng lưới điện và phát triển hạ tầng mới. Chi phí mua điện của EVN đã tăng hơn 2,5 lần trong giai đoạn 2018 - 2023, trong khi giá bán điện không phản ánh đầy đủ chi phí thực tế.
Bên cạnh đó, khung pháp lí cho ngành năng lượng vẫn thiếu tính ổn định và khả năng dự báo. Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đã được ban hành, nhưng chưa tạo được sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Với điện gió ngoài khơi, đến nay vẫn chưa có dự án nào được phê duyệt đầu tư chính thức dù mục tiêu phát triển đến năm 2035 khá tham vọng.
Về hạ tầng, hệ thống truyền tải điện tiếp tục là điểm nghẽn lớn nhất. Việt Nam cần nâng đáng kể năng lực truyền tải liên vùng, đầu tư vào lưới điện thông minh và các hệ thống lưu trữ năng lượng quy mô lớn, nếu muốn hấp thụ hiệu quả nguồn điện tái tạo.
Để giải quyết những thách thức trên, nhóm nghiên cứu đề xuất ba hướng cải cách trọng tâm: Thứ nhất là cải cách thị trường điện theo hướng giá điện phản ánh đúng tín hiệu thị trường; đồng thời tái cơ cấu EVN và thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ điện. Thứ hai là ổn định chính sách trong dài hạn, nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư và đẩy nhanh giải ngân các nguồn vốn quốc tế như JETP. Thứ ba là đầu tư mạnh cho hạ tầng chiến lược gồm lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các kho dự trữ LNG.
Theo Giáo sư Võ Xuân Vinh: An ninh năng lượng không thể được bảo đảm chỉ bằng các giải pháp kĩ thuật. Điều quan trọng hơn là phải tháo gỡ đồng loạt các nút thắt về tài chính, thể chế và hạ tầng để khơi thông dòng vốn đầu tư tư nhân trong nước, cũng như quốc tế. Trong giai đoạn 2026 - 2030, ba ưu tiên cần được thực hiện ngay gồm cải cách giá điện theo cơ chế thị trường, tái cơ cấu EVN và khởi động dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên của Việt Nam.
Nếu tận dụng được giai đoạn này, Việt Nam có cơ hội vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện thành công quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế phát thải thấp.
-
17/07/2026 09:09 Bộ Công Thương đánh giá cao những nỗ lực của VASTI và Tạp chí Một Thế Giới
Tại Hội thảo, ông Huỳnh Anh Tuyên - Phó Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Công Thương tại khu vực miền Trung - miền Nam, nhấn mạnh: An ninh năng lượng là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ông Huỳnh Anh Tuyên - Phó Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Công Thương, tại khu vực miền Trung - miền Nam phát biểu tại hội thảo Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động mạnh, do xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, yêu cầu giảm phát thải. Và, sự phát triển nhanh của các lĩnh vực như: Trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mới trong bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, an toàn và bền vững.
Bộ Công Thương cho biết đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để triển khai các chủ trương phát triển ngành năng lượng; thúc đẩy đa dạng hóa nguồn cung, phát triển điện lực, năng lượng tái tạo và năng lượng mới, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Đồng thời, xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại và linh hoạt.
Đánh giá cao chủ đề “Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng”, Bộ Công Thương cho rằng: Việc huy động hiệu quả nguồn lực từ nhà nước, khu vực tư nhân và các nhà đầu tư trong, ngoài nước là yếu tố then chốt để đáp ứng nhu cầu phát triển năng lượng trong giai đoạn tới. Đặc biệt, việc thảo luận về hạ tầng năng lượng phục vụ AI và trung tâm dữ liệu, thể hiện tầm nhìn gắn kết phát triển năng lượng với xu hướng kinh tế số.


Quang cảnh tại Hội thảo An ninh năng lượng. Bộ Công Thương kì vọng hội thảo sẽ đề xuất các giải pháp thiết thực về hoàn thiện cơ chế, chính sách, phát triển hạ tầng truyền tải, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lí năng lượng, đồng thời tăng cường hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030 và các giai đoạn tiếp theo.
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành, khuyến khích các sáng kiến và mô hình hợp tác thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và chuyển dịch năng lượng bền vững tại Việt Nam.
Bộ Công Thương ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) và Tạp chí Một Thế Giới trong việc tổ chức các diễn đàn khoa học có chất lượng, tạo cầu nối giữa tri thức khoa học với thực tiễn quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bộ Công Thương mong muốn các hoạt động như thế này sẽ tiếp tục được duy trì và mở rộng, góp phần nâng cao chất lượng đối thoại chính sách, lan tỏa các sáng kiến đổi mới và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong thực hiện mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Ban Tổ chức Hội thảo trao tặng hoa cho đại diện các nhà tài trợ. -
17/07/2026 09:00 PGS.TS. Huỳnh Thành Đạt phát biểu chào mừng Hội thảo
.jpg)
PGS,TS. Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận TW, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại hội thảo. Phát biểu chào mừng tại Hội thảo "An ninh năng lượng đến năm 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng", PGS, TS. Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận TW, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh an ninh năng lượng là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.
Theo PGS, TS. Huỳnh Thành Đạt, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ định hướng xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, tự chủ và bền vững, tạo nền tảng cho phát triển các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ông cho rằng, trong kỷ nguyên số, an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm nguồn cung cho sản xuất và đời sống; mà đã trở thành hạ tầng chiến lược phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, bán dẫn, điện toán đám mây và các công nghệ tiên tiến khác.
Đặc biệt, PGS, TS. Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh năng lượng là "hạ tầng của hạ tầng". Bởi, nếu dữ liệu là tài nguyên mới, AI là động lực mới và đổi mới sáng tạo là phương thức phát triển mới, thì năng lượng chính là nền tảng bảo đảm cho toàn bộ hệ sinh thái - đó vận hành. Do đó, đầu tư phát triển hạ tầng năng lượng cũng chính là đầu tư cho năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong tương lai.
Đánh giá cao chủ đề của hội thảo, PGS, TS. Huỳnh Thành Đạt cho rằng việc khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng; cần được tiếp cận một cách toàn diện. Không chỉ về vốn đầu tư mà còn phải kết nối hiệu quả thể chế, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, doanh nghiệp và hợp tác quốc tế. Ông cũng đánh giá cao phiên tọa đàm về hạ tầng năng lượng phục vụ các trung tâm dữ liệu AI. Đồng thời, ông Huỳnh Thành Đạt cũng bày tỏ tin tưởng hội thảo sẽ đóng góp nhiều luận cứ khoa học và khuyến nghị chính sách quan trọng; góp phần xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, tự chủ và bền vững cho Việt Nam.
-
17/07/2026 08:57 TS. Trần Văn Tùng phát biểu khai mạc Hội thảo
TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI), nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của năng lượng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao; phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của Việt Nam trong giai đoạn tới.

TS. Trần Văn Tùng phát biểu khai mạc hội thảo Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao. Việc bảo đảm an ninh năng lượng đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước.
TS. Trần Văn Tùng cũng chỉ ra những thách thức lớn mà ngành năng lượng Việt Nam đang đối mặt như: Nhu cầu tiêu thụ điện tăng nhanh, yêu cầu chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh và bền vững; biến động của thị trường năng lượng toàn cầu và áp lực bảo đảm nguồn cung ổn định. Trước những thách thức đó, việc phát triển hạ tầng năng lượng đòi hỏi không chỉ nguồn vốn đầu tư, mà còn cần khai thác hiệu quả các nguồn lực về tri thức, công nghệ và con người.
TS. Trần Văn Tùng khẳng định vai trò của thông tin khoa học và công nghệ; trong việc hỗ trợ hoạch định chính sách, cung cấp dữ liệu, nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn phục vụ phát triển ngành năng lượng.

Toàn cảnh Hội thảo An ninh năng lượng tại TP.HCM. Hội thảo được kì vọng sẽ là diễn đàn để các cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp trao đổi, đề xuất các giải pháp. Đồng thời, khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy đầu tư và mở rộng hợp tác trong phát triển hạ tầng năng lượng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030.
-
17/07/2026 08:54 Không khí tại Hội thảo 'An ninh năng lượng đến 2030'
Không khí tại Hội thảo 'An ninh năng lượng đến 2030' Tại khu vực đón tiếp, các đại biểu hoàn tất thủ tục đăng ký, trao đổi tài liệu và gặp gỡ trước giờ khai mạc. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng, kinh tế và hạ tầng đã có những cuộc trao đổi nhanh về các vấn đề đang được quan tâm như bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển năng lượng tái tạo, hoàn thiện hạ tầng truyền tải và thu hút nguồn lực đầu tư.
-
17/07/2026 08:10 Hội thảo bắt đầu đón các đại biểu

PGS, TS Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (trái) và TS. Trần Văn Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 
Lãnh đạo đại diện các bộ, ngành tham dự hội thảo. Hội thảo có sự hiện diện của lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cùng đại diện Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đại diện UBND

Ông Phạm Quang Long - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng. 
Quang cảnh một góc Hội thảo. 
Quan cảnh tại Hội thảo. TP.HCM, đại diện các Hội, Viện, Trường, doanh nghiệp, sinh viên từ các trường kỹ thuật và nhiều cơ quan báo đài...
-
17/07/2026 07:50 Hội thảo 'An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng'
Ngày 17/7, Hội thảo 'An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng' đã diễn ra tại TP.HCM.

Sự kiện do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Tạp chí Một Thế Giới tổ chức được kì vọng sẽ trở thành diễn đàn đối thoại có chiều sâu giữa các cơ quan quản lí, chuyên gia, doanh nghiệp và giới khoa học. Qua đó, nhằm tìm kiếm những giải pháp thiết thực cho một trong những vấn đề chiến lược của đất nước.
Hội thảo được tổ chức nhằm góp phần tuyên truyền các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đồng thời, tạo không gian trao đổi chính sách, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối các nguồn lực để thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng đến năm 2030.



