Cuộc đời nhà khoa học

Kì 5: Hồi ức của người học trò, thư kí riêng về Giáo sư Trần Đại Nghĩa

Hồng Thanh, Nam Phong

Qua hồi ức của ông Trần Thành Đức - người từng là học trò rồi trở thành thư kí riêng gắn bó nhiều năm bên Giáo sư Trần Đại Nghĩa - Tạp chí Một Thế Giới trân trọng giới thiệu đến bạn đọc góc nhìn sâu sắc, chân thực và đầy xúc động về hành trình lịch sử của “người được chọn”.

kì 5 về giáo sư trần đại nghĩa

Trong lịch sử khoa học và quân sự Việt Nam, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa hiện lên như một huyền thoại với những công trình chế tạo vũ khí vang dội. Nhưng đằng sau những khẩu súng Bazooka hay SKZ làm rung chuyển chiến trường năm xưa là chân dung một người thầy, một nhà trí thức lớn với tầm nhìn dựng xây con người cho đất nước. Qua hồi ức của ông Trần Thành Đức - người từng là học trò rồi trở thành thư kí riêng gắn bó nhiều năm bên Giáo sư Trần Đại Nghĩa được TS. Nguyễn Thanh Hoá, Giám đốc Công viên di sản các nhà Khoa học Việt Nam - MEDDOM ghi lại. Tạp chí Một Thế Giới trân trọng giới thiệu đến bạn đọc góc nhìn sâu sắc, chân thực và đầy xúc động về hành trình lịch sử của “người được chọn”.

Người được chọn

Từ người được chọn đến người thầy, từ người thầy trong công việc đến một con người, cuối cùng là điều còn lại trong ký ức của học trò. Đó cũng là hành trình để nhìn lại Trần Đại Nghĩa không chỉ như một nhân vật lịch sử, mà như một con người đã để lại dấu ấn trong cuộc đời của người khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các trí thức Việt kiều về nước năm 1946. Kỹ sư Phạm Quang Lễ đeo kính đứng sau cùng. Ảnh tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các trí thức Việt kiều về nước năm 1946. Kỹ sư Phạm Quang Lễ đeo kính đứng sau cùng. Ảnh tư liệu

Năm 1946, giữa lúc đất nước vừa giành được độc lập đã phải đối mặt với nguy cơ một lần nữa rơi vào chiến tranh, có một người trí thức Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn mà không dễ gì có được câu trả lời. Một con đường ở lại, tiếp tục công việc khoa học trong một môi trường đã quen thuộc, có thể đem lại cho ông một cuộc sống ổn định và một tương lai nghề nghiệp nhiều triển vọng. Con đường trở về lại đưa ông đến một đất nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn, nơi những điều kiện tối thiểu cho nghiên cứu khoa học cũng chưa có, và phía trước là một cuộc kháng chiến mà chưa ai có thể biết sẽ kéo dài bao lâu.

Nhưng lịch sử đã chọn ông theo một cách khác. Trở về nước, Phạm Quang Lễ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên Trần Đại Nghĩa và giao cho một nhiệm vụ đặc biệt: tham gia xây dựng ngành Quân giới, nghiên cứu và chế tạo vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến. Đó là một nhiệm vụ lớn hơn rất nhiều so với việc chế tạo một loại vũ khí cụ thể. Trong điều kiện đất nước gần như chưa có nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, thiếu thốn máy móc, nguyên liệu, thiết bị và cả đội ngũ cán bộ có chuyên môn, việc nghiên cứu chế tạo một loại vũ khí có khả năng sử dụng trên chiến trường đồng nghĩa với việc phải bắt đầu xây dựng từ những nền móng đầu tiên của một lĩnh vực khoa học và kỹ thuật mà đất nước chưa từng có điều kiện phát triển.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, những cơ quan của Nhà nước và Quân đội lần lượt rút khỏi Hà Nội. Cục Quân giới chuyển về những địa điểm ở vùng tự do, trong đó có Bình Đà rồi huyện Ứng Hòa. Trong một hoàn cảnh mà chiến tranh buộc con người phải sống và làm việc trong những điều kiện hết sức thiếu thốn, Trần Đại Nghĩa vừa nghiên cứu, hoàn thiện vũ khí vừa tổ chức truyền đạt những kiến thức kỹ thuật mới cho những cán bộ đầu tiên của ngành Quân giới. Những vật liệu phục vụ công việc được đặt ngay trong căn phòng nơi ông ở, dưới gầm giường và xung quanh chỗ làm việc. Từ những điều kiện giản dị và thiếu thốn ấy, những thử nghiệm về Bazooka được tiếp tục hoàn thiện và cuối cùng đạt kết quả thành công.

Ông không nhìn nhiệm vụ của mình chỉ ở việc tạo ra một thứ vũ khí có thể sử dụng ngay trên chiến trường. Ông nhìn xa hơn vào khả năng tự chủ về tri thức và kỹ thuật. Những người đầu tiên được ông trực tiếp giảng dạy được tiếp cận với các kiến thức về nội phao, ngoại phao, lí thuyết chuyển động của đạn trong nòng súng và ngoài khí quyển, tính năng của thuốc nổ, thuốc phóng, cùng những vấn đề về kỹ thuật vũ khí, xạ thuật, chất cháy, chất nổ. Những kiến thức khi ấy chưa có trong chương trình đào tạo đại học và cao đẳng ở Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám. Bài giảng của ông vừa có tính cơ bản, vừa gắn với yêu cầu thực tiễn, học lí thuyết đồng thời bắt tay vào tính toán và thực hành.

tran-thanh-duc(1).jpg
Ông Trần Thành Đức - người từng là học trò rồi trở thành thư kí riêng của Giáo sư Trần Đại Nghĩa. Ảnh MEDDOM

Qua lời kể của ông Trần Thành Đức, công lao lớn của Giáo sư không chỉ nằm ở những loại vũ khí, mà còn ở việc ông đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ cho ngành Quân giới đầu tiên của nước ta, đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài của ngành. Những người học trò đầu tiên như Lê Khắc, Hoàng Xuân Tùy, Phạm Đồng Điện, Hoàng Đình Phu, Nguyễn Văn Thu, Tôn Thất Hoàng… về sau đều trở thành những cán bộ có vai trò trong khoa học và công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Có lẽ chính ở đây mới thấy hết ý nghĩa của hai chữ “được chọn”. Trần Đại Nghĩa được lựa chọn để thực hiện một nhiệm vụ trước mắt của cuộc kháng chiến, nhưng đồng thời ông cũng đứng trước một nhiệm vụ lớn hơn: biến tri thức của một cá nhân thành năng lực của một tập thể, biến những hiểu biết khoa học còn xa lạ với đất nước thành nền tảng để những con người khác có thể tiếp tục học tập, nghiên cứu và sáng tạo. Trong núi rừng Việt Bắc, giữa những điều kiện vật chất hết sức hạn chế, một lớp học đã được mở ra, những bài giảng được soạn từ một số ít tài liệu mang theo cùng cây thước tính và bao thuốc lá Philip Morris, trò ngồi trên nền gạch, sổ ghi chép đặt trên đùi, buổi chiều tự học, làm bài tập, nghiên cứu tài liệu hoặc làm quen với công việc nhồi lắp và thử đạn dưới sự hướng dẫn trực tiếp của người thầy.

Điều làm nên dấu ấn của ông không chỉ là việc ông đã hoàn thành sứ mệnh ấy, mà còn là cách ông mở ra từ sứ mệnh đó một con đường dài hơn cho khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Người được chọn để chế tạo vũ khí đã trở thành người thầy của những người làm quân giới và những người học trò ấy, đến lượt mình, tiếp tục mang tri thức được truyền lại để xây dựng những lĩnh vực khoa học, kỹ thuật của đất nước.

Người thầy của những người làm quân giới

Với Trần Đại Nghĩa, đào tạo con người vì thế trở thành một phần không thể tách rời của công việc nghiên cứu và chế tạo.Những học viên đầu tiên được ông trực tiếp giảng dạy là những cán bộ sau này giữ những vị trí quan trọng trong khoa học và công nghiệp quốc phòng. Lê Khắc, Hoàng Xuân Tùy, Phạm Đồng Điện, Hoàng Đình Phu, Nguyễn Văn Thu, Tôn Thất Hoàng… khi ấy cùng ngồi trong những lớp học được tổ chức giữa điều kiện hết sức thiếu thốn. Những kiến thức họ tiếp nhận không đơn thuần là một vài công thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể. Trần Đại Nghĩa giảng cho họ những vấn đề cơ bản của kỹ thuật vũ khí, xạ thuật, chất cháy, chất nổ, lý thuyết chuyển động của đạn trong nòng súng và ngoài khí quyển, các tính năng của thuốc nổ, thuốc phóng. Đó là những lĩnh vực còn rất mới đối với đội ngũ cán bộ Việt Nam lúc bấy giờ.

nghiên cứu sản xuất vũ khí
Cán bộ kỹ thuật nghiên cứu sản xuất vũ khí mới trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ảnh tư liệu

Điều đáng chú ý trong cách giảng dạy của ông là sự kết hợp giữa cái cơ bản và cái thiết thực. Bài giảng không dừng lại ở lí thuyết, cũng không biến thành những hướng dẫn kỹ thuật thuần túy để giải quyết một công việc trước mắt. Người học được yêu cầu vừa nắm nguyên lí, vừa tính toán, vừa thực hành. Cách học ấy tạo cho họ một nền tảng để tiếp tục tự học và tự nâng cao trình độ sau này. Trong một hoàn cảnh mà tài liệu chuyên môn rất khan hiếm, cơ sở vật chất cho việc học tập gần như không có, thì khả năng tự học trở thành một năng lực đặc biệt quan trọng. Trần Đại Nghĩa không chỉ truyền lại những gì ông biết, mà còn tìm cách giúp học trò có phương pháp để tiếp tục tìm kiếm và làm chủ tri thức.

Qua lời nhớ của ông Thành Đức, cho thấy rõ hơn cách thức đào tạo ấy. Buổi sáng, Trần Đại Nghĩa đứng giảng, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Pháp. Không có bàn ghế, không có bảng đen, học viên ngồi trên nền gạch, đặt sổ lên đùi để ghi chép. Buổi chiều, họ tự học, làm bài tập, nghiên cứu tài liệu hoặc trực tiếp làm quen với công việc nhồi lắp và thử đạn dưới sự hướng dẫn của ông. Những bài giảng được ông chuẩn bị dựa trên số tài liệu ít ỏi luôn mang theo bên mình, cùng cây thước tính. Trong một lớp học như vậy, ranh giới giữa người thầy và công việc thực tế gần như không tồn tại: kiến thức vừa được truyền đạt đã lập tức được đưa vào thử nghiệm và kiểm chứng.

Cách đào tạo ấy còn được thể hiện ở lớp học tổ chức tại Bắc Kạn khoảng năm 1947, với khoảng 120 người đến từ nhiều nơi. Nội dung giảng dạy tập trung vào nguyên lí chế tạo Bazooka và những vấn đề cơ bản của vũ khí. Quy mô của lớp học cho thấy công việc đào tạo đã được mở rộng vượt ra ngoài một nhóm nhỏ những người trực tiếp làm việc bên cạnh ông. Trong cuộc kháng chiến trường kì đầy thử thách, việc hình thành lực lượng cán bộ có kiến thức về vũ khí có ý nghĩa như một sự chuẩn bị cho tương lai của ngành Quân giới.

Qua câu chuyện của ông Thành Đức, có thể thấy Trần Đại Nghĩa luôn đặt việc học trong một quá trình rộng hơn: đọc, suy nghĩ, cập nhật và tự đào tạo mình. Năm 1969, khi đang giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, ông vẫn quan tâm đến những tri thức mới. Ông tìm gặp GS. Hoàng Tụy để mượn cuốn Vận trù học trong quân sự bằng tiếng Nga, yêu cầu người thư kí lược dịch để mình xem xét, rồi chỉ đạo chuyển sách cho Hoàng Đình Phu dịch thành tài liệu phổ biến cho các sĩ quan trong Quân đội. Chi tiết này cho thấy với ông, đào tạo cán bộ không phải một công việc chỉ được thực hiện trong những năm đầu của ngành Quân giới, mà là một nhu cầu thường xuyên, gắn với sự phát triển của tri thức và yêu cầu mới của thực tiễn.

Tu duy KH (2)
Trang bìa cuốn "Xạ thuật thường thức", tài liệu về
binh khí kỹ thuật đầu tiên của Quân đội ta do
GS. Trần Đại Nghĩa chỉ đạo biên soạn và xuất bản
năm 1949. Ảnh: CNQP&KT

Từ những lớp học giữa chiến tranh đến việc chủ động đưa những tri thức mới vào đào tạo cán bộ nhiều năm sau đó, có thể nhận ra một quan niệm nhất quán: muốn công việc đi xa hơn một thế hệ, trước hết phải chuẩn bị con người cho thế hệ tiếp theo. Những người học trò của Trần Đại Nghĩa không chỉ tiếp nhận kiến thức từ ông rồi dừng lại ở đó. Họ trở thành những người tiếp tục đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong khoa học, giáo dục và công nghiệp quốc phòng. Vì thế, ảnh hưởng của một người thầy không chỉ nằm trong những gì học trò nhớ về ông, mà còn nằm trong những gì họ tiếp tục làm sau khi rời khỏi lớp học.

Bởi vậy, khi nhắc đến công lao của GS.VS Trần Đại Nghĩa, ông Trần Thành Đức không bắt đầu bằng một thành tựu kỹ thuật cụ thể. Ông nhấn mạnh trước hết đến việc người thầy của mình đã đào tạo được một đội ngũ cho ngành Quân giới đầu tiên của nước ta. Đằng sau những lớp học đơn sơ, những bài giảng bằng hai thứ tiếng, những cuốn sách ít ỏi và những giờ thực hành trong điều kiện thiếu thốn là một cách nhìn vượt ra ngoài yêu cầu của một cuộc chiến: xây dựng năng lực khoa học phải bắt đầu từ việc xây dựng những con người có thể tiếp tục học, tiếp tục nghiên cứu và tiếp tục sáng tạo.

Và có lẽ cũng từ đây, hình ảnh Trần Đại Nghĩa trong kí ức của người học trò bắt đầu có một chiều sâu khác. Khi nhớ lại những ngày được làm việc bên ông, ông Trần Thành Đức nói rằng điều đầu tiên mình học được chính là phương pháp làm việc. Câu chuyện ấy đưa chúng ta từ lớp học của người thầy đến một không gian khác: nơi Trần Đại Nghĩa hiện ra qua cách ông tổ chức công việc, sử dụng thời gian và truyền cho người bên cạnh mình một phương pháp sống và làm việc khoa học.

Mỗi vật có một chỗ và mỗi chỗ dành cho một vật

Trong ký ức của ông Trần Thành Đức, điều đầu tiên ông học được ở GS Trần Đại Nghĩa khi trở thành thư ký riêng không phải là một kiến thức kỹ thuật cụ thể, mà là phương pháp làm việc. Khi ấy, ông Đức đã tốt nghiệp kỹ sư và có vốn hiểu biết về vũ khí, nhưng chính ông thừa nhận mình “chưa có khái niệm gì về phương pháp làm việc khoa học”. Trần Đại Nghĩa đã bắt đầu từ những điều tưởng như rất nhỏ: làm thế nào để không sót việc, làm thế nào để nhớ việc, việc nào phải giải quyết trước, việc nào có thể giải quyết sau.

Câu nói mà ông Thành Đức nhớ mãi là: “Mỗi vật có một chỗ và mỗi chỗ dành cho một vật”. Nếu chỉ nghe như một lời nhắc về sự ngăn nắp, câu nói ấy có vẻ quá đơn giản so với tầm vóc của một nhà khoa học. Nhưng đặt trong toàn bộ cách làm việc mà người học trò kể lại, nó lại chứa một nguyên tắc sâu hơn: mọi công việc, mọi tài liệu, mọi thông tin đều cần được đặt vào một trật tự nhất định để con người có thể kiểm soát chúng. Sự ngăn nắp ở đây không chỉ là ngăn nắp của đồ vật, mà là ngăn nắp của tư duy. Khi mỗi thứ có vị trí của nó, người ta biết mình đang có gì, đang thiếu gì, cần tìm gì và phải bắt đầu từ đâu. Một công việc lớn, vì thế, không nhất thiết bắt đầu từ những quyết định lớn, nó có thể bắt đầu bằng khả năng không để một việc nhỏ bị thất lạc.

sắc lệnh phong hàm thiếu tướng
Sắc lệnh số 117.SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 25/1/1948 về việc phong quân hàm Thiếu tướng đối với Cục trưởng Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa. Ảnh: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3

Điều này đặc biệt đáng chú ý khi người nói về nó là một thư kí làm việc bên cạnh một nhà khoa học đồng thời giữ cương vị lãnh đạo. Nếu không có một phương pháp tổ chức, sự quá tải sẽ nhanh chóng biến thành sự hỗn loạn. Trần Đại Nghĩa không chỉ yêu cầu người thư kí hoàn thành từng việc, mà hướng dẫn cách phân loại và sắp xếp công việc để có thể chủ động kiểm soát nó. Như vậy, điều ông truyền cho người cộng sự không phải một kĩ năng hành chính đơn lẻ, mà là năng lực biến một dòng công việc phức tạp thành một hệ thống có thể quản lý được.

Từ phương pháp tổ chức công việc ấy có thể nhìn thấy một đặc điểm khác trong con người Trần Đại Nghĩa: ông coi trọng thời gian không chỉ vì thời gian của mình mà còn vì thời gian của người khác. Một lần, ông cùng người thư kí đến Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc sớm hơn giờ hẹn mười lăm phút. Thay vì vào ngay, ông bảo chờ đến trước giờ khoảng năm phút, bởi đến quá sớm cũng có thể làm phiền người khác, trong khi đến muộn lại là bất lịch sự. Một lần khác, khi Hội đồng Chính phủ đã bắt đầu họp được mười lăm phút, ông yêu cầu quay xe trở về, dù người thư ký cho rằng chỉ chậm có mười lăm phút. Lí do ông đưa ra không phải để biện minh cho việc mình đến muộn, mà ngược lại, ông nghĩ đến sự bất tiện mà việc xuất hiện giữa cuộc họp có thể gây ra cho người đang chủ trì và những người tham dự.

Ở đây, đúng giờ không còn đơn thuần là một quy tắc hành chính, mà là biểu hiện của sự tôn trọng. Đúng giờ là thừa nhận rằng thời gian của người khác cũng có giá trị như thời gian của mình. Vì thế, câu chuyện mười lăm phút ấy thực ra không nói nhiều về chiếc đồng hồ bằng nói về một quan niệm ứng xử. Một nhà khoa học có thể rất uyên bác, một vị tướng có thể giữ một cương vị cao, nhưng những điều đó không cho phép ông đứng ngoài những nguyên tắc mà mọi người khác phải tuân thủ. Trái lại, chính người ở vị trí càng cao càng phải tự đặt mình vào kỉ luật.

3. Kem bai nguoi thay_rcnlkuT
Giáo sư Trần Đại Nghĩa trong chuyến làm việc với Cục Quân giới. Ảnh tư liệu

Ông Thành Đức kể rằng, khi được Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài mời đi trực thăng lên Xuân Mai, ông Nghĩa cảm ơn và từ chối, sáng hôm sau hai thầy trò đi chiếc Com-măng-ca từ bốn giờ sáng. Chi tiết này có thể rất nhỏ nếu chỉ nhìn như một câu chuyện về phương tiện đi lại. Nhưng trong kí ức của người học trò, nó trở thành một dấu hiệu của lối sống bình dị và không tìm kiếm đặc quyền.

Một nhà khoa học lớn thường được hình dung qua những thành tựu lớn của mình. Nhưng với Trần Đại Nghĩa, những nguyên tắc làm việc lại hiện ra trong những hành vi rất nhỏ. Ông yêu cầu người thư kí hàng tuần, hàng tháng phải đọc các tạp chí và báo cáo cho ông những thông tin mới. Ông cần một người biết tiếng Nga không chỉ để xử lí giấy tờ, mà để mở rộng nguồn tri thức mà ông có thể tiếp cận. Đến năm 1969, ông vẫn chủ động tìm cuốn sách về Vận trù học trong quân sự, yêu cầu lược dịch, xem xét nội dung và đề nghị dịch thành sách để phổ biến cho sĩ quan. Điều ấy cho thấy phương pháp làm việc của ông không phải một hệ thống khép kín được tạo ra một lần rồi sử dụng mãi. Nó luôn mở về phía tri thức mới.

Đây có lẽ là điểm quan trọng nhất trong chân dung một nhà khoa học: trật tự không đồng nghĩa với sự đóng kín. Trái lại, một phương pháp làm việc tốt tạo ra khả năng tiếp nhận cái mới mà không bị cái mới làm cho rối loạn. Trần Đại Nghĩa vừa yêu cầu công việc phải được sắp xếp chặt chẽ, vừa liên tục tìm kiếm thông tin mới, vừa coi trọng nguyên tắc, vừa khuyến khích người bên cạnh đọc và học, vừa rất nghiêm khắc với thời gian, vừa dành sự kiên nhẫn để hướng dẫn một người thư ký trẻ còn thiếu kinh nghiệm. Những phẩm chất ấy không tách rời nhau mà tạo thành một kiểu tư duy nhất quán: làm việc phải có tổ chức, nhưng tổ chức là để phục vụ công việc và tri thức, chứ không phải để biến con người thành những chiếc máy tuân thủ.

Có lẽ vì thế mà ông Thành Đức, khi nhìn lại những năm tháng làm việc bên GS Trần Đại Nghĩa, không chỉ nói mình được học thêm kiến thức. Ông nói mình được học phương pháp làm việc. Sự khác biệt giữa hai điều ấy rất đáng chú ý. Kiến thức có thể được truyền từ người này sang người khác, nhưng phương pháp giúp một người tự mình tiếp tục tạo ra kiến thức. Một người có thể quên một bài giảng, nhưng nếu biết cách sắp xếp công việc, biết cách tìm kiếm thông tin, biết đặt câu hỏi, biết ưu tiên và biết chịu trách nhiệm với thời gian của mình và người khác, những điều ấy có thể theo họ suốt cuộc đời.

Trần Đại Nghĩa vì vậy không chỉ là một nhà khoa học có tri thức lớn, mà còn là một người có kỷ luật của trí tuệ. Ở ông, sự uyên bác không đi cùng vẻ phô trương, vị trí cao không đi cùng đặc quyền, và phương pháp khoa học không chỉ được áp dụng trong phòng thí nghiệm hay trên những bài toán kỹ thuật. Nó thấm vào cả cách ông sắp xếp một căn phòng, tiếp nhận một tài liệu, đến một cuộc hẹn, bước vào một cuộc họp và hướng dẫn một người trẻ làm việc. Chính từ những điều nhỏ bé ấy, một nhân cách lớn trở nên gần gũi và có sức thuyết phục.

Và cũng từ đây, hình ảnh “ông Phật làm súng” bắt đầu hiện ra rõ hơn. Bởi cái làm người khác nhớ về Trần Đại Nghĩa không chỉ là một trí tuệ có khả năng giải quyết những vấn đề khó khăn của chiến tranh, mà còn là một con người dường như không bị quyền lực, danh tiếng hay những thành tựu lớn làm thay đổi cách sống của mình. Đằng sau một nhà khoa học được ngưỡng mộ là một người thủ trưởng giản dị, đằng sau một vị tướng là một con người biết giữ cho mình một khoảng cách rất gần với những điều bình thường. Và chính sự tương phản ấy sẽ dẫn đến một khía cạnh khác trong ký ức của người học trò: một con người càng lớn về trí tuệ lại càng giản dị trong đời sống.

(Còn tiếp...)

Nổi bật
      Mới nhất
      Kì 5: Hồi ức của người học trò, thư kí riêng về Giáo sư Trần Đại Nghĩa
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO