Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Đừng để luật mới ban hành tạo ra điểm nghẽn mới
Việc văn bản pháp luật vừa ban hành đã gây vướng mắc trong thực thi đang đặt ra những yêu cầu cao hơn nữa trong việc đánh giá tác động chính sách.
Hơn một tuần qua, hàng nghìn container hàng hóa bị "tắc" tại cửa khẩu, cảng biển do vướng mắc khi thực hiện Nghị định 46. Dù việc tháo gỡ vướng mắc đang được các bộ ngành, địa phương tích cực thực hiện và có nhiều chuyển biến, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp vẫn như “ngồi trên đống lửa” khi hàng hoá chưa biết khi nào có thể thông quan.
Ở góc nhìn rộng hơn, một số chuyên gia cho rằng việc văn bản pháp luật vừa ban hành đã gây vướng mắc trong thực thi đang đặt ra những yêu cầu cao hơn nữa trong việc đánh giá tác động chính sách.
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam xoay quanh vấn đề này.
Luật mới ban hành đã phải gỡ vướng
- Gần đây, nhiều luật, nghị định vừa ban hành đã phải họp để tháo gỡ vì mang đến nhiều vướng mắc, thiệt hại doanh nghiệp, mới nhất là Nghị định 46 về an toàn thực phẩm, khiến hàng trăm nghìn tấn nông sản nhập khẩu ùn ứ. Ông nhìn nhận thế nào về điều này?
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Đúng là đối với dư luận, câu chuyện về các nghị định mới ban hành khi triển khai đã gặp vướng mắc là hiện tượng khá bất thường trong bối cảnh tiến hành cải cách quyết liệt nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế cho phát triển.
Đỉnh điểm là các hệ luỵ vừa phát sinh từ Nghị định 46/2025 ban hành ngày 26.1.2026 có hiệu lực ngay nhằm xiết chặt quản lý nhà nước theo Luật An toàn thực phẩm, vốn được kỳ vọng kịp thời bảo vệ an toàn sức khoẻ cho người dân ngay từ Tết Nguyên Đán.
Thế nhưng từ góc độ kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu thực phẩm, thì mục tiêu quản lý vĩ mô ấy đã ngay lập tức phản tác dụng, tức lại tạo ra điểm nghẽn mới cần phải tháo gỡ. Vậy, cần khái quát hoá các hiện tượng này thế nào để tìm ra bản chất sự việc?

Từ góc độ nghề nghiệp, tôi biết một nguyên tắc đã được luật định. Đó là các văn bản pháp luật, bao gồm cả luật và nghị định, phải có một thời hạn tối thiểu 45 ngày sau khi ban hành mới có hiệu lực thi hành. Điều này nhằm bảo đảm sự chuẩn bị cần thiết cho cả hai phía là cơ quan thực thi và đối tượng chịu ảnh hưởng, tránh sự bất tuân hay các vi phạm không đáng có xảy ra.
Cũng có ngoại lệ là trong trường hợp đặc biệt, ví dụ để ứng phó sự cố bất khả kháng hay tình thế cấp thiết, một văn bản pháp luật có thể có được ban hành theo thủ tục rút gọn, bỏ qua cả quy trình lấy ý kiến rộng rãi, và có hiệu lực ngay kể từ ngày ký.
Nhưng với một số nghị định như: Nghị định hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 24 và Nghị định 26 hướng dẫn Luật Hoá chất, Nghị định 46 về an toàn thực phẩm…, tôi thật sự bất ngờ là tất cả đều được ấn định có hiệu lực ngay, tức đã được ban hành theo thủ tục rút gọn mà không có lý do rõ ràng tại sao phải làm như thế?
- Vậy đánh giá về mặt hệ thống thì vấn đề có thể nằm ở đâu, thưa ông?
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Thứ nhất, theo đúng thẩm quyền và quy trình, cơ quan soạn thảo nghị định, tức một bộ quản lý nhà nước là người đề xuất ban hành nghị định, sẽ trình Chính phủ không chỉ nội dung mà cả cách thức ban hành, liệu có cần thiết và chính đáng để áp dụng thủ tục rút gọn để văn bản có hiệu lực ngay hay không?
Thứ hai, điều cần làm rõ, đó là đối tượng áp dụng hay người phải thi hành các văn bản pháp luật nói chung và nghị định nói riêng là người dân và doanh nghiệp. Theo đó, họ có quyền yêu cầu và đòi hỏi phải được đối xử thoả đáng và công bằng như là chủ thể và người trong cuộc.
Do vậy, trong trường hợp đối tượng điều chỉnh của các nghị định được nói đến, nhất là nghị định 46, không phải là vấn đề khẩn cấp đến mức “bất khả kháng” mà thuộc loại hoạt động quản lý nhà nước thông thường, thì tại sao các doanh nghiệp chịu sự tác động lại không được phổ biến trước về các yêu cầu quản lý mới? Trên cơ sở đó họ có đủ thời gian để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm vừa giảm thiểu được các tổn thất vật chất, vừa tránh được các hậu quả về về trách nhiệm do vi phạm pháp luật và hợp đồng?

Xét bối cảnh các hệ luỵ không nhỏ đã phát sinh cho các doanh nghiệp nhập khẩu thực phẩm đang phải gánh chịu mà dư luận đã nêu, tôi cho rằng phía các cơ quan lập chính sách và thực thi pháp luật cần có trách nhiệm chia sẻ rủi ro này với cộng đồng doanh nghiệp.
Thủ tục rút gọn chỉ là ngoại lệ, không nên “phổ biến”
- Phải chăng khâu đánh giá tác động chính sách còn chưa lường hết những hệ quả phát sinh, thưa ông?
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Có thể nói ngay từ năm 1996, khi Quốc hội lần đầu thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì ngoài thủ tục lấy ý kiến người dân vào dự thảo văn bản, yêu cầu đánh giá tác động về các khía cạnh như kinh tế - xã hội, môi trường, thủ tục hành chính và giới đã được đặt ra.
Có nghĩa rằng nếu trong bất cứ văn bản pháp luật nào có nội dung mới về chính sách thì chính sách đó phải được cơ quan đề xuất xây dựng văn bản đánh giá tác động nhằm dự báo hiệu quả cũng như các hệ luỵ phát sinh, trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành.
Rõ ràng là nếu nghĩa vụ này được tuân thủ, tức các văn bản được xây dựng, ban hành đúng quy trình thì các vấn đề và hậu quả của Nghị định 46 đã hoàn toàn có thể tránh được.

Có nghĩa ta hiểu rằng, vấn đề này là một tồn tại dễ thấy nhưng để giải quyết nó thì phải giải quyết một bài toán tổng thể, có tính hệ thống về thể chế.
- Một số chuyên gia nêu xu hướng số lượng các nghị định có hiệu lực từ ngày ký đang ngày càng nhiều. Trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, điều này liệu có vấn đề gì không, thưa ông?
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Về thực chất đó là vấn đề lớn. Xét phương diện kỹ thuật lập pháp, như tôi đã trình bày, một nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký có nghĩa rằng nó được ban hành bằng thủ tục rút gọn, mà thủ tục này chỉ là một tình huống ngoại lệ được luật cho phép. Nay, nếu nó trở nên một hiện tượng phổ biến thì đó chính là sự vi phạm không chỉ một điều luật cụ thể mà cả một nguyên tắc quan trọng của pháp luật liên quan đến quy trình lập pháp.
Chúng ta đều biết một hệ thống pháp luật phải được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng, dân chủ, công khai, minh bạch và hiệu quả. Nếu đặt hiệu quả làm mục tiêu thì đồng nghĩa với việc pháp luật phải phù hợp với đời sống khách quan, được sự đồng thuận của xã hội nhằm bảo đảm khả năng thực thi trên diện rộng với các biện pháp cưỡng chế thi hành được giảm thiểu tối đa.
Nói một cách cụ thể và đơn giản, để người dân tự giác thực thi pháp luật thì trước hết họ cần hiểu biết về nó, ít nhất thông qua các hoạt động phổ biến, tuyên truyền chủ động của cơ quan nhà nước. Điều này đã được quy định trong Luật Phổ biến giáo dục pháp luật hiện hành.
Một điểm nghẽn thể chế
- Lấy sự vụ của Nghị định 46 làm ví dụ, có thể coi đó là một điểm nghẽn của thể chế hay không ? Trong bối cảnh nhiệm vụ cải cách thể chế đang được đặt ra cấp thiết để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, theo ông, tư duy xây dựng pháp luật theo hướng quản trị phát triển cần được điều chỉnh, thay đổi ra sao để đáp ứng mục tiêu này?
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Ai cũng hiểu yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm về cải cách thể chế là cái gì cản trở phát triển kinh tế sẽ được coi là điểm nghẽn cần loại bỏ. Tôi nghĩ các cơ quan nhà nước từ cấp cao nhất là Quốc hội đều thấm nhuần tư tưởng này. Do đó chính Quốc hội đã mạnh dạn thực hiện bước đột phá là trao cho Chính phủ quyền được chủ động ban hành các văn bản quy phạm nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn được phát hiện mà chưa cần hay khi chưa có điều kiện để sửa luật.

Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ nội hàm của khái niệm hay phạm trù thể chế rất rộng, nó không chỉ là các quy định trên văn bản pháp luật mà còn cả khâu tổ chức thực thi, là năng lực, tư duy và hành xử của cả bộ máy và nhân sự được gọi chung là văn hoá quản trị công. Có nghĩa rằng việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế cũng cần được hiểu theo ý nghĩa tổng thể như vậy.
Trở lại câu chuyện về Nghị định 46 vẫn còn đang rất thời sự. Tôi cho rằng việc ban hành để thực thi ngay văn bản này là một động thái chưa cân nhắc thấu đáo đến các điều kiện thực tế cũng như các quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, thậm chí cả người tiêu dùng các sản phẩm, hàng hoá có liên quan. Đặc biệt trong cách hành xử, phối hợp giữa các cấp và cơ quan của bộ máy quản lý nhà nước nói chung cũng cho thấy tồn tại vấn đề cần khắc phục.
Đó là mặc dù nghị định yêu cầu nhiều biện pháp thực thi phải do các chính quyền địa phương tiến hành, nhưng theo phản ánh lại không kèm theo các hướng dẫn cụ thể, cũng như không tạo bất cứ khoảng trống nào về thời gian để có thể tổ chức thực hiện một cách khả thi theo đúng quy định.
Nói cách khác, phải chăng đó là tình trạng hành xử theo cách “ai lo việc của người ấy”, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa cấp trên ban hành chính sách hay quy định và cấp dưới có trách nhiệm thực thi để cùng cộng đồng trách nhiệm về các tác động và hậu quả có thể xảy ra. Nếu điều này là sự thật thì tôi e rằng đó cũng chính là một điểm nghẽn căn bản của thể chế cần được khắc phục.
- Xin cảm ơn ông!
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 4.2, Thủ tướng Phạm Minh Chính nói các bộ ngành phải cầu thị, lắng nghe ý kiến của người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng lưu ý không điều hành giật cục, khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cần quy định điều khoản chuyển tiếp cụ thể.