Nông dân ĐBSCL bắt đầu làm quen công nghệ số, canh tác thông minh
Từ máy móc, drone đến dữ liệu số, nông dân ĐBSCL từng bước thay đổi cách sản xuất theo hướng hiện đại, tiết kiệm.
Từ cơ giới hóa đến công nghệ số
Tại HTX Đồng An Lợi, Xã Thạnh An, TP. Cần Thơ, nông dân Phạm Thái Hùng là một người chủ động áp dụng phương thức sản xuất tiên tiến. Với trình độ học vấn lớp 11, ông Hùng có nền tảng tiếp thu kĩ thuật tốt và luôn tìm cách đưa những tiến bộ mới vào đồng ruộng.

Đáng chú ý, tỉ lệ cơ giới hóa tại HTX đã đạt khoảng 80% đến 90%. Nhiều khâu từng phụ thuộc vào sức lao động thủ công nay được máy móc hỗ trợ, giúp giải phóng sức lao động và nâng tiến độ sản xuất. Đây cũng là nền tảng để nông dân tiếp tục làm quen với các công nghệ mới.
Drone là một ví dụ. HTX Đồng An Lợi đưa thiết bị bay vào phun thuốc bảo vệ thực vật, rải phân bón và gieo sạ. Việc ứng dụng drone giúp tối ưu lượng vật tư, tạo độ phủ đồng đều và giảm sự tiếp xúc trực tiếp của người lao động với thuốc bảo vệ thực vật.
Nếu cơ giới hóa và drone là những công nghệ nhìn thấy rõ trên cánh đồng, dữ liệu số tạo ra một lớp quản trị mới. Tại Hội thảo “Công nghệ số thúc đẩy Nông nghiệp phát thải thấp tại ĐBSCL” trung tuần tháng 9, ông Nguyễn Hữu Thanh Bình, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP. Cần Thơ, cho rằng khu vực đang đứng trước yêu cầu vừa duy trì vai trò vùng sản xuất lúa trọng điểm, vừa chuyển sang canh tác chất lượng cao, phát thải thấp.
Theo đó, công nghệ số được đặt vào vị trí công cụ hỗ trợ nông dân quản lí sản xuất chính xác hơn, giảm chi phí và tạo dữ liệu phục vụ đo lường phát thải. Ông Lâm Nguyễn Hải Long, Phó chủ tịch VINASA, Chủ tịch ISC, nhấn mạnh định hướng “bình dân hóa giải pháp công nghệ”, tức chuyển đổi số (CĐS) cần đi vào những việc cụ thể, dễ vận hành, chi phí phù hợp và giải quyết trực tiếp khó khăn hằng ngày của người sản xuất.

Dữ liệu bắt đầu xuống đồng
Thạc sĩ Vũ Khắc An, Giám đốc Giải pháp IoTLink, cho rằng Digital Twin, hay bản sao số, có thể nâng mức quản lí vùng trồng. Mỗi vùng được mô phỏng trên nền tảng IoTLink, với các lớp dữ liệu về ranh giới, thửa ruộng, hiện trạng sinh trưởng, độ ẩm đất, pH, dinh dưỡng, thời tiết và năng suất dự kiến. Kết hợp cảm biến IoT với bản đồ số, người quản lí có thêm dữ liệu để hỗ trợ quyết định canh tác.
AIoT và Digital Twin cũng có thể hỗ trợ theo dõi độ mặn, thời tiết, từ đó chủ động hơn trong tưới tiêu. Giá trị của công nghệ không nằm ở việc đưa thật nhiều thiết bị xuống ruộng, mà ở khả năng biến dữ liệu thành thông tin dễ hiểu để người dân ra quyết định đúng thời điểm.
Hành trình số hóa của nông dân ĐBSCL vẫn còn những khoảng cách cần thu hẹp. Tại HTX Đồng An Lợi, lực lượng nông dân nòng cốt đa phần là người lớn tuổi. Việc tiếp thu, thao tác và vận hành phần mềm, ứng dụng công nghệ số hay quản lí dữ liệu sản xuất thông minh còn gặp khó khăn và có độ trễ cao.

Từ thực tế này, ông Phạm Thái Hùng kiến nghị tăng cường các lớp tập huấn ngắn hạn về công nghệ mới cho nông dân. Cách hướng dẫn cần trực quan, chi tiết, theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”, chỉ rõ từng khâu, từng loại công nghệ để nông dân lớn tuổi dễ tiếp thu, làm quen và tự tin áp dụng.
Cùng với đào tạo, cần có cơ chế khuyến khích thanh niên nông thôn ở lại quê hương, tham gia hợp tác xã và đóng vai trò cầu nối công nghệ cho thế hệ đi trước. Khi người trẻ cùng làm với nông dân, công nghệ sẽ có điều kiện đi vào sản xuất thay vì chỉ dừng ở trình diễn.
Từ ruộng lúa đến chuỗi giá trị
Một điểm quan trọng của CĐS là biến hoạt động sản xuất thành dữ liệu có thể kiểm chứng. Bà Trần Thị Kim Hương, Trưởng phòng Kinh doanh của Tập đoàn MISA, cho biết dữ liệu về phát thải có thể bao gồm CH4, N2O, điều kiện ruộng, mực nước, nhiệt độ, phân vô cơ, phân hữu cơ, nước tưới, tiêu và thông tin mùa vụ.
Ông Nguyễn Hữu Thanh Bình, cho rằng mô hình nông nghiệp thông minh cần kết hợp kĩ thuật canh tác, công nghệ vi sinh, cảm biến, bản đồ số và dữ liệu phát thải. Vai trò hỗ trợ của Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) trong chuẩn hóa kĩ thuật canh tác cũng được tài liệu ghi nhận. Điều này cho thấy giảm phát thải cần sự phối hợp giữa nghiên cứu, công nghệ, quản trị hợp tác xã và thực hành của nông dân.

Theo bà Đinh Thị Linh Hương, Phó cục trưởng Cục công nghiệp - Công nghệ thông tin - Bộ KH&CN, khi vùng trồng được số hóa, quy trình canh tác được ghi nhận, phát thải được đo lường và nguồn gốc được truy xuất, hạt gạo có thể được bán không chỉ bằng sản lượng mà còn bằng thông tin về chất lượng, quy trình và tiêu chuẩn xanh.
Tuy vậy, CĐS không có nghĩa là đưa thật nhiều công nghệ vào đồng ruộng. Nông dân và hợp tác xã cần được hướng dẫn nhập dữ liệu đúng; doanh nghiệp phải thiết kế công cụ đơn giản; cơ quan chuyên môn cần thống nhất tiêu chí đo lường. Nếu dữ liệu thiếu hoặc không đồng nhất, bản sao số chưa tạo được giá trị quản trị.
Vì vậy, con đường phù hợp là thử nghiệm ở quy mô nhỏ, đo kết quả, công khai dữ liệu, đánh giá hiệu quả kinh tế rồi mới xem xét nhân rộng. Từ chiếc drone trên đồng ruộng, những trang nhật kí số đến các nền tảng dữ liệu, nông dân ĐBSCL đang từng bước làm quen với cách sản xuất mới. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành công cụ gần gũi, giúp người dân giảm chi phí, nâng hiệu quả và tạo ra sản phẩm có chất lượng, minh bạch hơn.