Phép màu cho đôi mắt sáng đến nâng tầm hạt ngô bản địa
Từ một sinh viên ngành Văn gặp biến cố mất đi ánh sáng đôi mắt, bước chân; ông Nguyễn Tất Đạt đã tìm lên rẻo cao Sơn La và các vùng sâu, vùng xa trên cả nước để tìm kiếm cơ hội chữa trị. Không ai ngờ, hành trình đi tìm lại ánh sáng đã mang đến phép màu cho chính ông. Và, gieo mầm cho một khát vọng lớn: Nâng tầm hạt ngô bản địa thành thương hiệu Mỳ Nàng Ngô.
Mối nhân duyên từ đôi mắt và lời nguyện ước trên vùng núi Sơn La
Năm 1988, khi đang là sinh viên năm thứ 3 khoa Văn - Đại học Sư phạm Thái Nguyên, biến cố tai quái ập đến khiến thị lực của anh sinh viên Nguyễn Tất Đạt bị suy giảm nghiêm trọng rồi gần như chìm hẳn vào bóng tối. Sau khi đi khắp các bệnh viện Tây y lớn nhỏ nhưng chỉ nhận về những cái lắc đầu, anh không buông xuôi mà quyết định lên Sơn La và đi khắp các vùng sâu, vùng xa trên cả nước. Mục đích của anh là nghiên cứu thảo dược, nhờ cậy các thầy thuốc y học cổ truyền người bản địa và sưu tầm những bài thuốc quý của đồng bào để tự cứu lấy đôi mắt mình.
Suốt một thời gian dài kiên trì bó thuốc và uống thảo mộc giữa sương giăng mây phủ, điều kỳ diệu đã xảy ra: ánh sáng dần quay trở lại với đôi mắt của anh Đạt.
Trong những ngày tháng chữa bệnh và tìm kiếm thảo dược trên các bản làng, cảm động trước tấm lòng chân chất, sự cưu mang của bà con cũng như sự kỳ diệu của tri thức dân gian, anh Đạt tự hứa với lòng mình: Khi đôi mắt này sáng lại, anh sẽ nguyện dốc hết sức mình làm một điều gì đó thật ý nghĩa để nâng cao đời sống và giúp đồng bào thoát nghèo.
Ngày mở mắt ra nhìn thấy lại đất trời, hình ảnh đập vào mắt anh là những nương ngô bạt ngàn gối sóng lên mây. Ở vùng cao Sơn La, ngoài cây sắn và cây ngô, bà con chẳng có cây trồng chủ lực nào khác. Cây sắn tuy lắm bột nhưng ăn nhiều dễ say; còn hạt ngô bản địa tuy cứng như đá nhưng lại cho thịt gà, thịt lợn săn chắc, dẻo thơm. Bà con dân bản quanh năm chỉ biết đồ mèn mén hay bung ngô ăn qua bữa, ngô còn lại chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi. Hạt ngô làm ra không bán được giá, đời sống người dân vẫn quanh quẩn trong cái nghèo.
Những trăn trở ấy mãi sau này cứ bám lấy tâm trí anh Đạt: Làm sao để hạt ngô bản địa không chỉ là món ăn cứu đói dẻo dai của miền núi, mà có thể bước xuống miền xuôi, trở thành món ăn ngon, lành và nâng cao sinh kế cho đồng bào?

Hành trình chế tạo “không giống ai” và công nghệ hoàn thiện từ 2016
Trở về miền xuôi mang theo lời nguyện ước, ông Nguyễn Tất Đạt bắt tay vào hành trình gian khổ vượt ngoài hình dung. Để biến hạt ngô bản địa cứng như đá thành sợi mì mềm dẻo, đáp ứng khẩu vị hiện đại là bài toán vô cùng hóc búa.
Cây ngô bản địa (thường được bà con trồng mỗi năm chỉ một vụ từ tháng 4 đến tháng 10) có đặc tính hạt vô cùng chắc, đậm vị và chứa nhiều dưỡng chất, nhưng vỏ lại ráp và rất khó chế biến. Muốn tạo ra sản phẩm mì chất lượng cao, ông Đạt phải trải qua 7 năm ròng rã nghiên cứu. Để có kinh phí thử nghiệm và mua sắm linh kiện, ông đã bán đi tổng cộng 4 ngôi nhà của gia đình.
Khó khăn nhất không chỉ là công thức, mà là máy móc. Trên thị trường lúc bấy giờ hoàn toàn không có sẵn dây chuyền sản xuất mì ngô theo đúng ý đồ của ông. Không nản chí, từ năm 2016 đến nay, ông Đạt cùng các cộng sự thân thiết đã bền bỉ nghiên cứu, tự tay sưu tầm, thu mua từng bộ phận, tự đo đạc, chế tác và lắp ráp nên một hệ thống sản xuất độc bản. Đến nay, khi bước vào nhà máy, người ta sẽ không tìm thấy bất kỳ nhãn hiệu "Made in..." thương mại nào trên dàn máy, bởi từng bánh răng, trục đùn đều do chính tay người sáng lập Việt Nam sáng tạo nên.
Điểm then chốt trong công nghệ chế biến do ông Đạt cùng các cộng sự nghiên cứu từ năm 2016 đến nay chính là công nghệ chế biến khô và bán khô. Khác với các phương pháp làm bún mì truyền thống phải ngâm ướt, phát sinh nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường và dễ làm chua sản phẩm, quy trình của Mỳ Nàng Ngô xử lý ngô hoàn toàn ở trạng thái khô và bán khô, không làm ảnh hưởng đến môi trường nước.
Hạt ngô nguyên liệu được chọn lọc từ vùng trồng Sơn La, nơi hạt ngô chín được "treo đèn" (xé vỏ phơi sương nắng tự nhiên ngay trên nương). Khi đưa về nhà máy ở Hưng Yên, máy móc chuyên dụng sẽ bóc tách vỏ lụa giáp bên ngoài, bỏ mày ngô, và đặc biệt là bóc tách phần phôi ngô - nơi chứa nhiều dinh dưỡng nhưng cũng là mầm mống phát sinh con mọt.
Nhờ bóc sạch phôi và ứng dụng công nghệ khô 100%, sợi mì làm ra giữ trọn màu sắc tự nhiên và có hạn sử dụng kéo dài tới 24 tháng mà không cần đến hóa chất bảo quản.

Nâng tầm nông sản Việt, hướng ra biển lớn
Để sợi mì ngô đạt độ dai mượt tự nhiên mà không cần phụ gia, quy trình do ông Đạt và cộng sự sáng tạo có thể phối trộn hoàn hảo 80% ngô tẻ (tạo khung dai, dẻo) và 20% ngô nếp bản địa (tạo độ kết dính mềm mại). Sản phẩm Mỳ Nàng Ngô ra đời mang 100% dưỡng chất từ cây ngô tự nhiên: giàu xơ, không gluten, chỉ số chuyển hóa đường chậm. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy mì rất thích hợp cho người bị tiểu đường, béo phì, gút hay những người theo đuổi chế độ ăn lành mạnh (healthy).
Không dừng lại ở mì sợi, từ nền bột ngô sạch này, thương hiệu Mỳ Nàng Ngô còn phát triển linh hoạt ra các dòng sản phẩm như bún ngô, bánh phở ngô, nui, vỏ bánh pizza, bột làm bánh và thậm chí là ống hút bằng bột ngô thân thiện với môi trường có khả năng ngâm trong nước nóng suốt 1 giờ đồng hồ không bị nhũn.
Sự ra đời của Mỳ Nàng Ngô đã giải quyết bài toán đầu ra cho bà con nông dân vùng cao Sơn La và mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho nông sản Việt. Khi nhà máy vận hành tối đa công suất, mỗi ngày có thể tiêu thụ tới 13 tấn ngô hạt, tương đương hàng trăm tấn ngô mỗi tháng được bao tiêu cho đồng bào dân tộc.
Tính đến nay, thương hiệu Mỳ Nàng Ngô đã hoàn thiện hàng loạt chứng nhận chất lượng khắt khe như ISO, kiểm định an toàn của Bộ Y tế, và đặc biệt là chứng chỉ Halal Jakim - tấm "hộ chiếu" quyền lực giúp sản phẩm tiếp cận hơn 50 quốc gia Hồi giáo cùng các thị trường khó tính như Mỹ và Trung Đông.
Từ một lời hứa trả ơn giữa đại ngàn của người sinh viên khoa Văn bị hỏng mắt năm xưa, ông Nguyễn Tất Đạt đã chứng minh rằng: khi tình yêu thương đồng bào kết hợp với chí hướng sáng tạo kiên cường, hạt ngô ngàn đời của người bản địa hoàn toàn có thể hóa thành "vàng ròng", vươn mình kiêu hãnh trên bản đồ thực phẩm thế giới.