Ca sĩ Thúy Hà ‘kêu trời’ với phí bản quyền 96 triệu cho 1 bài hát
Ca sĩ Thúy Hà chia sẻ áp lực bản quyền khi làm kênh YouTube, trong đó có ca khúc được báo phí 96 triệu đồng cho một năm sử dụng.

Bản quyền âm nhạc trên môi trường số không còn là chuyện xa lạ với nghệ sĩ. Một ca khúc khi được đưa lên YouTube không chỉ là phần trình bày của ca sĩ, mà còn liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu bản ghi, quyền khai thác thương mại và doanh thu phát sinh từ nền tảng.
Khi thị trường âm nhạc chuyển mạnh sang không gian trực tuyến, những chi phí này ngày càng hiện rõ. Ca sĩ muốn giữ một MV trên kênh riêng không chỉ phải đầu tư thu âm, phối khí, quay dựng, quảng bá, mà còn phải trả phí để được sử dụng tác phẩm trong thời hạn nhất định.
Với những kênh có nhiều video, nhiều bản karaoke, bản nhạc không lời hoặc album tổng hợp, chi phí bản quyền có thể trở thành gánh nặng dài hạn. Trường hợp ca sĩ Thúy Hà chia sẻ về kênh Thúy Hà Collection cho thấy áp lực đó tác động trực tiếp đến quyết định sản xuất, phát hành và lưu giữ tác phẩm trên YouTube.
Ca sĩ Thúy Hà: 96 triệu đóng phí, làm kênh “lỗ sặc máu”
Ca sĩ Thúy Hà vừa kể lại quá trình xây dựng kênh Thúy Hà Collection và những áp lực bản quyền khi đưa sản phẩm âm nhạc lên YouTube. Trong tài liệu nữ ca sĩ cung cấp, ca khúc Đất nước trọn niềm vui của nhạc sĩ Hoàng Hà được báo phí bản quyền 96 triệu đồng, chưa bao gồm 8% thuế GTGT.
Phạm vi sử dụng ghi trong tài liệu là lãnh thổ Việt Nam, nền tảng phát hành Internet, thời hạn một năm, bắt đầu từ ngày 30/4/2026. Mức phí này khiến Thúy Hà bất ngờ, bởi chi phí đầu tư một MV vốn đã lớn, trong khi doanh thu từ YouTube không dễ bù đắp.
“Chi phí đầu tư cho một MV ca nhạc tốn kém như vậy thì một MV phải đạt khoảng 500.000 lượt xem mới huề vốn. Chỉ huề vốn thôi, vì nếu có thu nhập cũng phải giữ lại để đóng tác quyền cho những năm sau. Thực tế, lượt xem của những năm sau không tăng nhiều nhưng vẫn phải đóng tiền cho tác giả nếu muốn giữ tác phẩm trên YouTube. Đâu phải tác phẩm nào cũng được khán giả đón nhận. Đầu tư xong, không có lượt xem vẫn phải đóng tiền tác quyền”, Thúy Hà nói.
Nữ ca sĩ dẫn chứng có những tác phẩm cô đầu tư hàng trăm triệu đồng nhưng chỉ đạt khoảng 10.000 lượt xem. Dù vậy, cô vẫn phải đóng “thuê bao” trong nhiều năm vì xem đó là kỷ niệm. “Nói tóm lại, làm kênh lỗ sặc máu”, nữ ca sĩ nói thêm.
Kênh Thúy Hà Collection do nữ ca sĩ tự lập và tự quản lý. Giai đoạn đầu, kênh không thuộc network nào. Lượt xem và lượt đăng ký phát triển tự nhiên, phụ thuộc vào sự ủng hộ của khán giả nên tốc độ tăng trưởng chậm.
Khi các sản phẩm âm nhạc được đưa lên kênh, khó khăn lớn nhất phát sinh từ bản quyền. Nhiều sản phẩm do Thúy Hà tự đầu tư không tạo doanh thu cho cô vì doanh thu chạy về chủ sở hữu quyền. Ban đầu, nữ ca sĩ chấp nhận điều này vì muốn lưu giữ tác phẩm trên YouTube như một kỷ niệm nghề nghiệp.
Khi tiếp tục làm sản phẩm mới, chi phí bản quyền trở thành áp lực dài hạn. Nếu sử dụng tác phẩm của người khác nhưng chưa hoàn tất quyền sử dụng, video có thể bị gỡ. Kênh cũng có thể bị ảnh hưởng nếu vi phạm nhiều lần.
Thúy Hà gọi cách trả phí theo thời hạn là “thuê bao” bản quyền. Người làm kênh muốn giữ tác phẩm trên YouTube phải trả phí trong một thời hạn nhất định. Khi hết hạn, nếu không gia hạn, sản phẩm có nguy cơ phải rời khỏi nền tảng.

Bản quyền âm nhạc tính theo từng link
Theo Thúy Hà, có tác phẩm được tính theo một năm, hai năm, ba năm, năm năm hoặc mười năm. Mỗi chủ sở hữu đưa ra một mức giá khác nhau. Có bài vài triệu đồng, có bài hàng chục triệu đồng, có trường hợp lên đến 96 triệu đồng cho một link.
Nữ ca sĩ nói phí bản quyền có thể được tính theo từng đường link. Một tác phẩm xuất hiện trong một link thì tính một lần. Nếu cùng một ca khúc được đăng nhiều lần trên cùng một kênh, chi phí có thể được tính nhiều lần.
Cách tính này tạo áp lực lớn cho các kênh âm nhạc có nhiều phiên bản nội dung. Một ca khúc có thể xuất hiện trong MV, bản karaoke, bản nhạc không lời, bản có lời hoặc album tổng hợp. Nếu mỗi phiên bản đều được tính riêng theo link, chi phí duy trì sẽ tăng nhanh.
Một MV không chỉ có phần nhạc. Sản phẩm còn có hòa âm phối khí, giọng hát, phòng thu, trang phục, hóa trang, quay hình, dựng phim, quảng bá và công sức của cả ê kíp. Sau khi sản phẩm hoàn thành, quyền khai thác vẫn phụ thuộc vào phần tác phẩm âm nhạc. Nếu ca khúc thuộc quyền của tác giả hoặc đơn vị sở hữu khác, ca sĩ phải xin phép và trả phí theo phạm vi sử dụng.
Thúy Hà nói có những sản phẩm cô đã đầu tư nhưng không thể mua được quyền sử dụng nên cuối cùng phải bỏ. Có tác phẩm tốn hàng trăm triệu đồng để thực hiện, nhưng lượt xem chỉ khoảng 10.000. Dù vậy, cô vẫn phải đóng phí duy trì trong nhiều năm vì xem đó là kỷ niệm.
Với ca sĩ tự làm kênh, rủi ro lớn nhất là không thể tính đường dài. Họ phải bỏ tiền thu âm, quay dựng, truyền thông, rồi tiếp tục bỏ tiền để duy trì quyền sử dụng. Nếu sản phẩm không đạt lượt xem như kỳ vọng, toàn bộ khoản đầu tư trở thành gánh nặng.
Một ca khúc muốn sống lâu cần nhiều lực đẩy. Nhạc sĩ tạo ra tác phẩm. Ca sĩ đưa tác phẩm đến khán giả bằng giọng hát, bản phối, hình ảnh và chi phí sản xuất. Ê kíp phía sau góp phần làm mới đời sống của ca khúc. Nếu chi phí duy trì quá lớn, nhiều ca sĩ sẽ ngại đầu tư. Những ca khúc cũ cũng ít có cơ hội được làm mới, ghi hình và tiếp cận khán giả trẻ.

Ca sĩ Thúy Hà mong cơ chế bản quyền rõ ràng hơn
Thúy Hà cho rằng cách thu tiền bản quyền hiện nay cần thay đổi để hài hòa hơn giữa nhạc sĩ, ca sĩ và nhà đầu tư. Theo nữ ca sĩ, khi “người có cơm, người có cháo”, tác phẩm mới có thêm cơ hội được bảo tồn.
Từ trường hợp của ca sĩ Thúy Hà, thị trường âm nhạc cần một cơ chế minh bạch hơn về giá, thời hạn, phạm vi sử dụng và cách tính phí trên nền tảng số. Người làm kênh cần biết họ phải trả bao nhiêu, trả cho ai, trả trong bao lâu, được sử dụng trên nền tảng nào và có được khai thác nhiều phiên bản hay không.
Một ca khúc được báo phí bản quyền 96 triệu đồng trong một năm gây sốc vì con số. Phía sau con số đó là thực tế nhiều ca sĩ tự đầu tư phải cân nhắc từng bài hát, từng bản phối, từng link YouTube và từng năm duy trì sản phẩm.
Bản quyền được siết chặt là xu hướng của thị trường âm nhạc chuyên nghiệp. Nhưng nếu chi phí duy trì khiến người biểu diễn không còn dám làm mới tác phẩm, thị trường sẽ mất đi một nguồn lực quan trọng.
Khi đó, người chịu thiệt không chỉ là ca sĩ. Khán giả cũng mất cơ hội tiếp cận những phiên bản mới của các ca khúc từng sống trong ký ức nhiều thế hệ.

