Nỗi đau bản quyền số: Khi nhạc sĩ phải đi xin lại chính tác phẩm của mình
Từ vụ khởi tố một số doanh nghiệp và cá nhân liên quan hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, thị trường âm nhạc Việt Nam lộ rõ một nỗi đau kéo dài: người sáng tạo làm ra tác phẩm, nhưng không phải lúc nào cũng kiểm soát được tác phẩm và dòng tiền từ tác phẩm của mình.

Ngày 15/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố 5 vụ án hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự.
Các vụ án liên quan Công ty BH Media, Công ty TNHH Lululola Entertainment, nhóm 1900 Group, Công ty TNHH Mây Sài Gòn và Trung tâm Giọng ca để đời. Theo Bộ Công an, cơ quan điều tra đang mở rộng điều tra, làm rõ hành vi phạm tội của các bị can và sai phạm của các đối tượng liên quan, đồng thời xác minh để thu hồi tài sản.
Đây trước hết là câu chuyện pháp lý. Các kết luận cuối cùng thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng. Nhưng từ vụ việc này, thị trường âm nhạc số buộc phải nhìn lại một vấn đề lớn hơn: nhiều nhạc sĩ, ca sĩ và chủ sở hữu bản ghi đã ở thế yếu quá lâu trong hệ thống khai thác bản quyền trực tuyến.
Một ca khúc có thể do nhạc sĩ viết, ca sĩ hát, ê kíp bỏ tiền thu âm, phối khí, quay hình. Nhưng khi bước lên môi trường số, tác phẩm có thể đi qua nhiều tầng trung gian: nền tảng, công ty quản lý nội dung, hợp đồng ủy quyền, đơn vị phát hành cũ, hệ thống nhận diện tự động và các dữ liệu mà người sáng tạo không dễ kiểm chứng.
Bản quyền sinh ra để bảo vệ người sáng tạo. Nhưng khi bản quyền bị nắm giữ mập mờ, bị khai thác quá phạm vi hoặc bị biến thành công cụ gây sức ép, người sáng tạo lại có thể trở thành bên phải đi xin lại chính tác phẩm của mình.
Bản quyền số và nghịch lý người sáng tạo bị đẩy ra ngoài tác phẩm
Trường hợp nhạc sĩ Giáng Son là một ví dụ điển hình. Tác giả Giấc mơ trưa từng lên tiếng sau khi ca khúc này bị thông báo khiếu nại bản quyền trên YouTube. Theo các thông tin đã được báo chí đăng tải, nữ nhạc sĩ cho biết bản ghi trong album Giáng Son năm 2007 do chính chị sản xuất, phối khí, ghi âm và mời ca sĩ Khánh Linh thể hiện.
Điều gây tổn thương không chỉ là doanh thu. Điều khó chấp nhận hơn là tác giả bị đặt vào vị trí phải chứng minh quyền của mình trên chính tác phẩm mình tạo ra.
Trong đời sống âm nhạc truyền thống, một nhạc sĩ được xác lập bằng tên tuổi, tác phẩm và sự ghi nhận của công chúng. Nhưng trên nền tảng số, quyền kiểm soát lại phụ thuộc rất lớn vào dữ liệu. Ai đưa bản ghi vào hệ thống trước, ai có giấy ủy quyền, ai nắm tài khoản quản trị, ai kiểm soát công cụ nhận diện nội dung, người đó có thể tạo ra lợi thế lớn.
Khi hệ thống thông báo một video có khiếu nại bản quyền, tác giả có thể rơi vào nghịch lý: tác phẩm là của mình, nhưng mình lại bị đối xử như người sử dụng sai.
Đây là vết đau sâu nhất của bản quyền số. Người sáng tạo không chỉ có nguy cơ mất tiền. Họ còn mất vị trí chủ thể trong quan hệ với chính tác phẩm của mình.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung cho biết anh đã đối diện tình trạng thất thoát quyền lợi từ thời nhạc chuông chờ. Có bài hát tạo ra doanh thu lớn, nhưng phần đến tay tác giả lại rất nhỏ so với giá trị bài hát mang lại.
Sự việc xảy ra trước khi YouTube, TikTok và các nền tảng nghe nhạc trực tuyến phát triển mạnh. Tuy nhiên, bản chất không thay đổi. Tác phẩm sinh ra tiền, còn người sáng tạo không phải lúc nào cũng biết dòng tiền đi đâu, qua tay ai và được phân chia theo cơ chế nào.
Với nhạc sĩ, tiền bản quyền không chỉ là một khoản thu nhập. Đó là phần đền đáp tối thiểu cho lao động sáng tạo. Một ca khúc không tự nhiên xuất hiện. Đằng sau đó là thời gian sống, kỹ năng nghề nghiệp, trải nghiệm, cảm xúc và nhiều năm tích lũy. Khi tác phẩm thành công, người sáng tạo phải được hưởng phần quyền lợi tương xứng.
Khi quyền lợi đó bị giữ lại ở các tầng trung gian, thị trường âm nhạc không còn công bằng.
Cái bẫy từ băng đĩa sang nền tảng trực tuyến
Không chỉ nhạc sĩ chịu thiệt. Ca sĩ và chủ sở hữu bản ghi cũng có thể rơi vào tình cảnh tương tự.
Câu chuyện nhóm MTV với MV Chuyện nhỏ là một ví dụ. Khi kênh YouTube chính thức của nhóm đăng lại MV này, video nhận thông báo đang được một đơn vị khác khai thác bản quyền. Nhóm MTV cho rằng họ chỉ làm việc với đơn vị phát hành đĩa vật lý, không có thỏa thuận rõ ràng về khai thác bản ghi âm thanh, bản ghi hình trên nền tảng trực tuyến.
BH Media phản hồi đơn vị này được Bến Thành Audio & Video cho phép quản lý các sản phẩm trên YouTube. Tranh chấp này cho thấy nhiều sản phẩm âm nhạc được tạo ra trong thời kỳ VCD, DVD, nhưng sau đó được đưa vào môi trường số với những quyền khai thác mà nghệ sĩ có thể không lường hết.
Ở thời băng đĩa, ca sĩ cần đơn vị phát hành để xin phép, in đĩa và đưa sản phẩm ra thị trường. Khi thị trường số xuất hiện, kho bản ghi cũ trở thành tài sản có thể kiếm tiền trên YouTube và các nền tảng khác. Nếu hợp đồng cũ không rõ, người biểu diễn và chủ bản ghi dễ bị đẩy vào tranh chấp.

Một MV không chỉ là sản phẩm thương mại. Với nghệ sĩ, đó còn là dấu mốc nghề nghiệp và một phần hình ảnh gắn với tên tuổi của họ. Khi bản ghi bị bên khác kiểm soát trong lúc cơ sở pháp lý chưa rõ với người trong cuộc, thiệt hại không chỉ nằm ở doanh thu.
Ca sĩ Mỹ Lệ cũng phản ánh việc các bài hát trong album riêng của mình bị người khác nắm quyền khai thác, khiến việc sử dụng lại sản phẩm gặp nhiều trở ngại. Những trường hợp như vậy cho thấy nghệ sĩ không chỉ có nguy cơ mất tiền, mà còn mất quyền chủ động với chính sản phẩm của mình.
Trong môi trường số, công cụ nhận diện bản quyền tự động là cần thiết. Công cụ này giúp phát hiện sao chép, ngăn khai thác trái phép và chuyển doanh thu về đúng chủ sở hữu quyền. Nhưng hệ thống chỉ đáng tin khi dữ liệu đầu vào chính xác, giấy ủy quyền rõ ràng và phạm vi khai thác minh bạch.
Khi gia đình tác giả cũng phải chờ phần quyền lợi từ một bài hát còn sống
Trường hợp Tìm lại người xưa của cố nhạc sĩ Phạm Anh Cường cho thấy một nỗi đau khác của bản quyền âm nhạc.
Đây là ca khúc có đời sống rộng sau khi tác giả qua đời. Bài hát được nhiều ca sĩ thể hiện, xuất hiện trên sân khấu, bản thu, YouTube, karaoke và nhiều dạng nội dung khác. Tên tuổi cố nhạc sĩ Phạm Anh Cường cũng gắn liền với bài bolero này. Sau nhiều năm, Tìm lại người xưa vẫn được khán giả tìm nghe và được nhiều người sử dụng lại trong các sản phẩm âm nhạc.
Nếu một tác phẩm còn được khai thác, câu hỏi không thể né tránh là quyền lợi của tác giả và người thừa kế đang được thực hiện đến đâu.
Theo chia sẻ từ phía gia đình, lúc sinh thời, nhạc sĩ Phạm Anh Cường sống chật vật. Tiền làm ra phần lớn được anh dành để chăm chút cho tác phẩm, từ hòa âm đến phối khí. Sau khi anh mất, quyền thừa kế được trao lại cho vợ. Dù vậy, số tiền tác quyền gia đình nhận được không quá nhiều, trong khi ca khúc vẫn tiếp tục có đời sống rộng rãi trên nhiều hình thức khai thác.

Chính sự chênh lệch giữa sức sống của bài hát và phần quyền lợi đến tay gia đình tác giả cho thấy yêu cầu cấp thiết về minh bạch dòng tiền bản quyền. Khi một ca khúc tiếp tục được biểu diễn, thu âm, đưa lên YouTube, khai thác trong hệ thống karaoke hoặc sử dụng trên các nền tảng số, các đơn vị phân phối và khai thác tác phẩm cần công khai rõ nguồn tiền, doanh thu phát sinh, phần đã thực hiện nghĩa vụ tác quyền và phần được phân phối cho người có quyền.
Một bài hát được hát lại không đồng nghĩa tác giả đã được trả đủ. Một bài hát xuất hiện trên YouTube không đồng nghĩa doanh thu đã đến đúng người có quyền. Một bài hát có mặt trong hệ thống karaoke không đồng nghĩa nghĩa vụ tác quyền đã được thực hiện đầy đủ và minh bạch.
Với một nhạc sĩ đã khuất, tiền bản quyền không còn là thu nhập cá nhân. Đó là phần quyền lợi hợp pháp của người thừa kế. Đó cũng là thước đo tối thiểu cho cách thị trường đối xử với lao động sáng tạo.
Bản quyền số vì vậy không chỉ là chuyện Content ID, hợp đồng hay nền tảng. Trọng tâm nằm ở cơ chế ghi nhận, đối soát và phân phối doanh thu. Một ca khúc còn tiếp tục sinh ra giá trị thì phần giá trị thuộc về tác giả và gia đình tác giả phải được xác định rõ, trả đúng và công khai trong hệ thống khai thác.
Trả lại trật tự cho thị trường bản quyền số
Việc xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là cần thiết, nhưng vài vụ án không thể giải quyết hết gốc rễ của thị trường bản quyền số.
Điều cần làm là rà soát lại các hợp đồng ủy quyền, phát hành và quản lý nội dung, nhất là với những tác phẩm được sản xuất từ thời băng đĩa. Quyền phát hành vật lý phải được tách bạch với quyền khai thác và kiếm tiền trên nền tảng trực tuyến.
Các nền tảng và đơn vị trung gian cũng phải minh bạch dữ liệu khai thác, doanh thu và tỷ lệ phân phối. Nghệ sĩ, nhạc sĩ, chủ bản ghi cần biết tác phẩm của mình đang được sử dụng ở đâu, ai đang nhận tiền và quyền nào đã được ủy quyền.
Bảo vệ bản quyền trước hết là bảo vệ người sáng tạo và chủ sở hữu hợp pháp, không phải bảo vệ mọi đơn vị nhân danh bản quyền. Tác phẩm bị khai thác sai phạm vi cần được truy lại doanh thu. Dữ liệu bản quyền sai cần được sửa. Hành vi trục lợi cần bị xử lý theo pháp luật.
Vụ việc liên quan BH Media và một số đơn vị khác là điểm nổ của vấn đề đã tích tụ lâu dài. Thị trường âm nhạc muốn phát triển thành công nghiệp văn hóa phải trả lại cho người sáng tạo quyền kiểm soát hợp pháp, sự minh bạch và phần lợi ích đúng với giá trị tác phẩm của họ.

