PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: 'Cốt lõi của báo chí vẫn luôn phải đề cao trung thực, trách nhiệm xã hội và tinh thần phụng sự nhân dân'
Gần 40 năm sau công cuộc Đổi mới, từ một nền báo chí chủ yếu tuyên truyền một chiều, báo chí đã trở thành diễn đàn phản biện, tiếng nói của nhân dân và lực lượng đồng hành đặc biệt của công cuộc đổi mới đất nước. Trong cuộc trò chuyện với Một Thế Giới nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ đã chia sẻ nhiều góc nhìn, ký ức và suy ngẫm một giai đoạn được ông gọi là “một cuộc cách mạng lớn” của báo chí Việt Nam.
.jpg)

- Thưa PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ, khi nhắc tới hai chữ Đổi mới, điều đầu tiên ông nhớ về đời sống báo chí Việt Nam thời điểm ấy là gì?
- PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ: Đấy là không khí thay đổi rất mạnh mẽ bắt đầu từ sau Đại hội VI của Đảng. Đó là dấu mốc mở ra công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, trước hết là đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy về kinh tế. Thời điểm ấy, trên báo chí xuất hiện một loạt bài viết “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh). Những bài viết đó ngoài việc đi thẳng vào vấn đề, nói trực diện về thói hư tật xấu, về sự bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới; thì quan trọng hơn, nó chạm đúng vào những điều mà người dân đang nghĩ, đang trăn trở nhưng trước đó chưa được nói ra nhiều trên mặt báo.
Chính điều đó đã tạo nên một luồng sinh khí mới cho đời sống xã hội. Báo chí từ chỗ chủ yếu truyền đạt thông tin một chiều đã dần trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; phản ánh tâm tư, nguyện vọng và cả những vấn đề bức xúc của đời sống thực tế. Có thể nói, đó như một cánh cửa được mở ra đối với giới báo chí lúc bấy giờ. Anh em làm báo cảm nhận rất rõ một không khí mới: Cởi mở hơn, dân chủ hơn và gần với đời sống thực tế hơn. Từ đó, báo chí bắt đầu mạnh dạn phản ánh những vấn đề của xã hội, những khó khăn, bất cập của cơ chế cũ và đồng hành với công cuộc đổi mới của đất nước.
- Theo ông, đâu là khác biệt lớn nhất giữa báo chí trước và sau Đổi mới?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Trước Đổi mới, báo chí của chúng ta chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền. Đến thời kỳ đổi mới, cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, báo chí cũng thay đổi rất mạnh về tư duy làm nghề, cách tiếp cận đời sống và vai trò xã hội của báo chí.
Nói vậy thôi chứ để có thể đó là một bước chuyển không hề dễ dàng mà phải vượt qua rất nhiều rào cản mà mấu chốt là chính nội tại của mỗi nhà báo. Con người ta khi đã quen đi trên một con đường cũ thì lúc chuyển sang con đường mới bao giờ cũng có sự rụt rè, ngại ngần. Báo chí thời điểm ấy cũng vậy. Theo tôi, vượt qua được tâm lý e dè để nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật - đó là rào cản lớn nhất mà báo chí thời kỳ ấy phải vượt qua.

- Vậy theo ông, báo chí thời kỳ đầu Đổi mới đã góp phần thay đổi tư duy xã hội ra sao, nhất là trong cách nhìn về kinh tế thị trường và đời sống dân sinh?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Báo chí thời kỳ đầu Đổi mới đã góp phần rất quan trọng trong việc thay đổi tư duy xã hội. Báo chí thời kỳ ấy là vừa lan tỏa tiếng nói, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, vừa phản ánh tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề thực tiễn của nhân dân. Báo chí trở thành nơi kết nối giữa chính trị với đời sống xã hội, giúp quá trình đổi mới đi vào thực chất hơn và gần với người dân hơn… Có thể nói, Đổi mới giống như một cơn đau đẻ. Nó không dễ dàng, bởi phải thay đổi từ tư duy quản lý đến cách nghĩ, cách làm của cả xã hội.
Khi chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều khái niệm trước đó còn rất mới mẻ, thậm chí khiến người ta e ngại. Chính báo chí đã góp phần giải thích, phản ánh và từng bước tạo sự đồng thuận trong xã hội đối với quá trình đổi mới ấy.
Thời điểm đó cũng xuất hiện nhiều tác phẩm báo chí gây tiếng vang lớn. Chẳng hạn như bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?” của tác giả Phùng Gia Lộc. Tác phẩm đi thẳng vào những vấn đề gai góc của đời sống nông thôn lúc bấy giờ, phản ánh sự cực khổ và những bất cập mà người dân phải chịu đựng. Bài viết tạo ra chấn động xã hội rất lớn, đến mức tác giả sau đó phải rời quê ra Hà Nội một thời gian để tránh áp lực. Nhưng chính những tác phẩm như thế đã cho thấy báo chí bắt đầu dũng cảm hơn trong việc nói lên sự thật của đời sống.


- Trong giai đoạn Đổi mới, nhiều phóng sự điều tra và bài viết phản biện đã tạo tiếng vang lớn. Theo ông, điều gì đã tạo nên tinh thần dấn thân ấy của người làm báo?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Tinh thần dấn thân ấy trước hết xuất phát từ sự thay đổi trong không khí xã hội và trong tư duy làm báo thời kỳ Đổi mới. Ví dụ như trước kia, công tác quản lý còn nặng tính mệnh lệnh, áp lực, đôi khi người làm báo cũng có tâm lý e dè, sợ bị quy chụp. Nhưng bước vào thời kỳ Đổi mới, báo chí được tạo điều kiện để phản ánh đời sống thực tế mạnh dạn hơn, thẳng thắn hơn. Chính điều đó đã khơi dậy tinh thần dấn thân của nhiều nhà báo.
Bên cạnh đó, thể chế pháp lý cũng có những thay đổi rất quan trọng. Luật Báo chí được thông qua ngày 28/12/1989 và được ban hành ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới do Đại hội VI (1986) khởi xướng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của đất nước: Lần đầu tiên xác lập một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động báo chí trong thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường. Cụ thể hóa các đường lối đổi mới của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, dân chủ hóa đời sống tinh thần và quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Tạo điều kiện cho báo chí (báo in, báo nói, báo hình) phát triển mạnh mẽ về quy mô và nội dung, làm cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Luật đã xác định rõ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí, bảo vệ quyền hoạt động nghề nghiệp chính đáng của phóng viên, đồng thời cũng nêu rất rõ trách nhiệm của người làm báo trước xã hội và pháp luật. Sự ra đời của Luật Báo chí 1989 thể hiện nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí trong thời kỳ mới. Luật này vừa bảo đảm "quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận" nhưng đồng thời cũng quy định rõ "trong khuôn khổ pháp luật" và "phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân". Điều này cho thấy sự cân bằng giữa mở cửa và kiểm soát. Chính từ sự thay đổi cả về tư duy xã hội lẫn cơ chế pháp lý ấy mà nhiều nhà báo đã mạnh dạn đi vào những vấn đề nóng của đời sống, thực hiện các phóng sự điều tra, các bài viết phản biện có sức lay động xã hội rất lớn.

- Có thể nói báo chí là một trong những lĩnh vực “đổi mới sớm nhất” hay không, thưa ông?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nghĩ có thể nói như vậy. Bởi ngay từ đầu, các nghị quyết của Đảng đã xác định rất rõ: Muốn đổi mới thì trước hết phải đổi mới tư duy. Mà những cơ quan làm công tác lý luận, tuyên giáo và báo chí chính là những lực lượng đi đầu trong việc truyền tải tinh thần đổi mới ấy vào đời sống xã hội. Có thể nói, báo chí là một trong những lĩnh vực cảm nhận rất sớm và phản ứng rất nhanh trước yêu cầu đổi mới.
Ở phía Bắc, có những tờ báo như Báo Nhân Dân, Báo Lao Động, Báo Tiền Phong. Ở phía Nam có Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên, Báo Sài Gòn Giải Phóng… Sau này tiếp tục xuất hiện thêm nhiều tờ báo năng động khác như Báo Pháp Luật TP.HCM hay Báo Phụ Nữ TP.HCM. Đây đều là những cơ quan báo chí có nhiều đóng góp trong việc phản ánh đời sống xã hội và tạo nên không khí đổi mới trong xã hội lúc bấy giờ.
Không chỉ đổi mới về nội dung và tư duy làm báo, báo chí thời kỳ ấy cũng bắt đầu thay đổi cả cách thể hiện, cách tiếp cận thông tin và dần tiếp cận những phương thức làm báo hiện đại hơn. Theo tôi, chính vì đi rất gần với đời sống xã hội nên báo chí đã trở thành một trong những lĩnh vực đổi mới sớm và rõ nét nhất trong thời kỳ đó.
Trong giai đoạn này, báo chí đã phát huy vai trò xung kích trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Từ năm 1987, hàng loạt bài phê phán tiêu cực tham nhũng được đăng tải trên nhiều tờ báo, mở rộng trên nhiều lĩnh vực và đối tượng. Các bài viết nêu rõ vụ việc, phân tích nguyên nhân, đối tượng, tác hại và trách nhiệm, khẳng định chống tiêu cực, tham nhũng không có vùng cấm, cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.


- Ông có thể chia sẻ một vài kỉ niệm hoặc một bài báo thời kỳ Đổi mới khiến ông nhớ nhất vì tác động xã hội của nó?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nhớ nhất là bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?” của Phùng Gia Lộc. Đó là một tác phẩm gây chấn động rất lớn thời bấy giờ vì nó đi thẳng vào những vấn đề gai góc của đời sống nông thôn, phản ánh nỗi khổ thực sự của người dân. Bên cạnh đó còn có loạt bài “Vua lốp” của Trần Huy Quang, rồi những bài viết về vấn đề giá - lương - tiền, về những mô hình đổi mới ở Long An, về “khoán chui” của đồng chí Đoàn Duy Thành ở Hải Phòng, về Nghị quyết 10 (về khoán hộ) của Bộ Chính trị (năm 1988)…, hay các bài đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng. Những tác phẩm báo chí ấy có tác động xã hội rất lớn vì nó tạo thêm niềm tin của nhân dân vào công cuộc Đổi mới.
Người dân thấy rằng báo chí đã bắt đầu nói đúng những điều họ đang nghĩ, đang trăn trở, và Đảng, Nhà nước cũng đang thực sự muốn thay đổi để đất nước phát triển. Sau này, khi tôi làm Vụ trưởng Vụ Báo chí, cũng có những vụ việc rất lớn như vụ Vụ án Năm Cam hay Vụ PMU 18. Báo chí trong những vụ đó có nhiều đóng góp tích cực trong việc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Nhưng đồng thời cũng để lại những bài học nghề nghiệp rất sâu sắc. Có lúc báo chí chạy quá nhanh theo sự kiện, thông tin chưa thật sự chặt chẽ, dẫn tới những hệ lụy đáng tiếc. Đó cũng là điều mà người làm báo phải luôn suy nghĩ và rút kinh nghiệm.
Với cá nhân tôi, có một sự việc cách đây gần 20 năm, lúc đó tôi đang là Vụ trưởng Vụ Báo chí, Ban Tuyên giáo Trung ương. Tôi đồng ý trả lời phỏng vấn của một phóng viên nước ngoài về một vài sự kiện, vấn đề được coi là khá "nhạy cảm" của nước mình lúc đó. Tất nhiên, tôi hiểu, họ có thể muốn biết rõ sự thật, cũng có thể gài bẫy mình qua câu hỏi lắt léo. Lúc đó, việc giới chức ta - dù cương vị cao hay thấp - trả lời báo chí nước ngoài là rất ít, rất dè dặt.

Theo quy định bất thành văn, tôi báo cáo cấp trên của mình về sự việc. Đồng chí đó nói chân tình: Họ đề nghị là quyền, là mong muốn của họ, còn có nhận lời hay không là quyền của mình. Tôi cân nhắc mấy giây và thưa lại: Xin các anh cứ cho phép em gặp họ, em xin lấy trải nghiệm, sự hiểu biết của em, kể cả sinh mệnh chính trị của em để thực hiện cuộc phỏng vấn đúng đắn, trách nhiệm, có kết quả tốt. Và cuộc trả lời phỏng vấn của tôi và nhà báo nước ngoài diễn ra tốt đẹp, hài lòng cho cả hai phía.
Một sự việc khác, liên quan đến việc phóng viên báo chí nước ngoài tham dự Đại hội Đảng ta. Tất nhiên, họ đã tham dự một số Đại hội trước đó, nhưng đến Đại hội XI, XII, họ đề nghị được phát sóng trực tiếp cảnh sắc và ý kiến người dân về Đại hội của "Đảng mình". Cả hai Đại hội này, tôi là Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Giám đốc Trung tâm báo chí Đại hội Đảng. Có đồng chí có trách nhiệm băn khoăn: Họ lấy sóng phát thanh, truyền hình từ Trung tâm báo chí của ta thì được, nhưng họ ghi và phát trực tiếp ngoài hiện trường (phố phường, sinh hoạt và ý kiến người dân...), liệu có xảy ra những sự việc ngoài ý muốn, ngoài dự kiến của mình... thì sao? Tôi bình tĩnh trả lời: Chúng tôi đã làm việc với họ, hai bên sẽ thực hiện đúng theo quy định Luật báo chí Việt Nam, phần quy định với người nước ngoài và Quy chế hoạt động của Trung tâm báo chí Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi việc diễn ra đúng tôi đã báo cáo”.

- Có ý kiến cho rằng báo chí thời Đổi mới giàu lý tưởng và giàu chất đời hơn báo chí hôm nay. Ông có đồng tình với quan điểm này không, thưa ông?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nghĩ mỗi thời kỳ có những đặc điểm riêng, nhưng đúng là thời kỳ Đổi mới đã tạo ra một cảm hứng xã hội rất lớn đối với báo chí cũng như văn học nghệ thuật.
Chúng ta đều biết, bất kỳ một cuộc đổi mới lớn lao, mang tính cách mạng nào cũng khơi gợi một nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Như Cách mạng Tháng Tám từng tạo nên một giai đoạn rất đặc biệt của văn học nghệ thuật, thì công cuộc Đổi mới của chúng ta những năm ấy cũng có tác động tương tự đối với báo chí. Khi đó đất nước đứng trước rất nhiều khó khăn. Chúng ta mất đi nhiều nguồn viện trợ, phải tự lực tự cường để vượt qua khủng hoảng. Tôi nhớ đồng chí Nguyễn Văn Linh từng nói đại ý rằng: “Chúng ta phải tự cứu mình trước khi trời cứu”. Chính hoàn cảnh ấy khiến người làm báo có nhiều trăn trở hơn, gần với đời sống hơn và cũng có khát vọng đóng góp mạnh mẽ hơn cho xã hội. Có lẽ vì thế mà báo chí thời kỳ ấy vừa giàu lý tưởng, vừa đậm chất đời sống thực tiễn.

- Theo ông, tinh thần Đổi mới của báo chí Việt Nam năm xưa nên được tiếp nối như thế nào trong thời đại số và mạng xã hội phát triển như vũ bão, thay đổi hằng ngày như hiện nay?
- PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ: Hiện nay, đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Có thể gọi đây là một cuộc đổi mới lần thứ hai với rất nhiều yêu cầu và thách thức mới đặt ra. Vì thế, những bài học của thời kỳ Đổi mới trước đây vẫn còn nguyên giá trị đối với báo chí hôm nay.
Mỗi cuộc đổi mới đều phải đối diện với những lực cản, với tư duy cũ và cả những tác động tiêu cực từ bên ngoài xã hội. Vì vậy, báo chí càng cần giữ vững bản lĩnh chính trị, bám sát quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Theo tôi, đổi mới phải có nguyên tắc. Đổi mới phải dựa trên lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì cuộc sống của nhân dân và vì mục tiêu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ngày nay, thế giới thay đổi rất nhanh với chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và truyền thông đa nền tảng. Điều đó đặt ra yêu cầu báo chí phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, công nghệ lẫn cách tiếp cận công chúng. Nhưng dù thay đổi thế nào thì cốt lõi của báo chí vẫn là sự trung thực, trách nhiệm xã hội và tinh thần phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân.
Tôi nghĩ những bài học của hơn 40 năm Đổi mới, trong báo chí nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung, vẫn là nền tảng rất quan trọng để chúng ta bước tiếp trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Trân trọng cảm ơn ông!


