Tên xưa gọi nhớ: 168 địa danh Sài Gòn - TP.HCM
Tập sách "Tên xưa gọi nhớ: Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi 168 xã, phường, đặc khu tại Thành phố Hồ Chí Minh" giải thích nguồn gốc 168 xã, phường, đặc khu của TP.HCM sau sắp xếp, từ tên dân gian đến ký ức đô thị.
Tên xưa gọi trở lại trong một bản đồ mới của TP.HCM
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính, TP.HCM bước vào một không gian rộng hơn, bao gồm cả Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây. Trên bản đồ mới, nhiều tên phường, xã, đặc khu được giữ lại, phục hồi hoặc đặt trong một quan hệ hành chính khác. Một cái tên vì thế không còn là dòng chữ nhỏ dưới bản đồ. Nó trở thành dấu nối giữa hiện tại quản lý và ký ức cộng đồng.
Tập sách Tên xưa gọi nhớ: Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi 168 xã, phường, đặc khu tại Thành phố Hồ Chí Minh của hai tác giả Lê Đức Quy và Huỳnh Ái Thy, do NXB Tổng hợp TP.HCM giới thiệu, xuất hiện đúng vào bối cảnh đó. Ấn phẩm vừa được tái bản lần 1, dày 188 trang, khổ nhỏ, hướng đến bạn đọc phổ thông hơn là giới nghiên cứu chuyên sâu.
Cuốn sách không đặt tham vọng viết lại lịch sử địa phương. Hai tác giả chọn cách đi từ tên gọi. Mỗi tên đất được đặt cạnh nguồn gốc, nghĩa chữ, dấu vết dân gian và các lớp biến động hành chính. Cách tiếp cận này giúp những địa danh vốn quen miệng như Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Vấp, Bến Thành, Thủ Thiêm hay Vũng Tàu thoát khỏi vai trò một nhãn địa lý đơn thuần.

Từ dấu mốc hành chính đến dấu vết khai phá
Sách được chia thành bốn phần: Các mốc thời gian cần lưu ý; Đặc điểm hình thành các địa danh; Những điều thú vị về các địa danh; Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi. Cấu trúc này tạo một đường dẫn rõ cho người đọc: trước hết là mốc lịch sử, sau đó là cách địa danh hình thành, cuối cùng là từng trường hợp cụ thể.
Trong phần mốc thời gian, cuốn sách lần theo trục từ năm 1698 đến năm 2025. Năm 1698 gắn với việc Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, tổ chức bộ máy hành chính ở vùng đất Nam bộ. Năm 1808, vua Gia Long đổi trấn Gia Định thành Gia Định thành. Năm 1862 là mốc thực dân Pháp đặt nền đô hộ ở Nam Kỳ sau Hiệp ước Nhâm Tuất. Năm 1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2025, toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu được sắp xếp thành TP.HCM.
Đặt cạnh địa danh, các mốc lịch sử cho thấy tên gọi không đứng yên. Có tên đi từ dân gian vào sổ bộ. Có tên từng mất đi rồi trở lại. Có tên được giữ nguyên để bảo toàn sự quen thuộc.
Địa danh Nam Bộ nằm trong lời ăn tiếng nói
Một phần có giá trị của Tên xưa gọi nhớ là cách cuốn sách gom các nhóm địa danh Nam bộ theo nguồn gốc hình thành. Địa danh nơi đây gắn với quá trình khai phá phương Nam từ cuối thế kỷ 17. Tên đất vì thế mang theo địa hình, sông rạch, cây cối, sản vật, tín ngưỡng, chợ búa, cầu bến và cả tâm thế của người đi mở đất.
Có nhóm địa danh dựa vào yếu tố tự nhiên. Những chữ như “gò”, “vũng”, “hải”, “cần”, “hóc”, “dầu”, “vườn” cho thấy cư dân xưa thường nhìn vào địa hình, thủy văn, cây trái hoặc sản vật để gọi tên nơi mình sống. Gò Vấp, Vũng Tàu, Long Hải, Cần Giờ, Hóc Môn, Dầu Tiếng là những ví dụ cho cách đặt tên gần với mắt thấy tai nghe.
Có nhóm địa danh bắt nguồn từ đời sống văn hóa - xã hội. Chợ Quán, Chợ Lớn, Xóm Chiếu cho thấy chợ, xóm, bến nước, nơi sinh hoạt cộng đồng từng là trung tâm nhận diện của một vùng. Khi nhắc tên, người ta không chỉ nhớ vị trí mà còn nhớ nếp sống.
Một nhóm khác gắn với quê cũ của người di dân. Trong quá trình vào phương Nam lập nghiệp, nhiều cộng đồng đem theo ký ức quê nhà, đặt tên vùng đất mới như một cách neo giữ nguồn cội.
Sách cũng chỉ ra nhiều địa danh hình thành từ công trình, cơ sở hạ tầng hoặc nhân vật, sự kiện lịch sử. Bến Thành, Cầu Ông Lãnh, Cầu Kiệu, Thủ Dầu Một, Thủ Thiêm cho thấy cầu, bến, thủ sở từng tạo ra điểm định vị trong đời sống đô thị. Bà Điểm, Ông Lãnh, Bảy Hiền lại giữ dấu vết con người và truyền thuyết địa phương.

Khi tên gọi giữ lại ký ức cộng đồng
Trong 168 xã, phường và đặc khu của TP.HCM hiện nay, nhiều tên có chữ “Bình” hoặc “An”. Đây không chỉ là mỹ từ hành chính. Trong bối cảnh vùng đất mới từng đối diện thiên nhiên khắc nghiệt, xung đột, thú dữ, chiến tranh và những bất ổn của đời sống khai phá, các chữ ấy mang ý nghĩa cầu chúc. Người đặt tên mong vùng đất được bình yên, người ở lại được an cư.
Một số tên gọi có thể thay đổi theo sổ sách, nhưng tên quen trong miệng người dân vẫn bền bỉ hơn nhiều quyết định hành chính. Người ta nhớ một vùng đất bằng đường đi, giọng nói, món ăn, ngôi chợ, cái cầu, bến nước, đình miếu, hàng cây. Tên gọi chỉ là phần nổi của một lớp ký ức dài.
Lần tái bản này cho thấy nhóm tác giả đã lắng nghe những góp ý từ bạn đọc để điều chỉnh, cập nhật một số thông tin. Với sách viết về địa danh, sự thận trọng ấy rất cần thiết. Một tên đất có thể đi qua nhiều lớp nghĩa, nhiều cách gọi, nhiều dị bản trong dân gian trước khi bước vào văn bản hành chính.
Tên xưa gọi nhớ không phải công trình địa chí đồ sộ, cũng không thay thế các khảo cứu chuyên sâu về Nam bộ. Giá trị của cuốn sách nằm ở lối vào gần gũi. Người đọc có thể mở sách từ một cái tên quen, lần theo đó để gặp lại dấu vết của sông rạch, chợ búa, cầu bến, xóm làng, những lớp người đã khai phá và ở lại.
Sau một cuộc sắp xếp lớn về địa giới, thành phố có thêm những địa chỉ mới trên giấy tờ. Nhưng bên dưới mỗi tên xã, phường, đặc khu vẫn là một phần ký ức chưa mất. Có những tên gọi được sinh ra từ sổ bộ. Có những tên gọi sống lâu hơn sổ bộ, nhờ nằm trong lời ăn tiếng nói của cư dân.
168 tên gọi trong cuốn sách không chỉ giúp người đọc nhận diện TP.HCM trên bản đồ hành chính mới. Chúng gợi lại một thành phố được bồi đắp bằng nhiều vùng đất, nhiều lớp lịch sử và nhiều nỗi nhớ. Khi bản đồ thay đổi, điều còn neo lại đôi khi chính là tên đất.



