Nhịp đập công nghệ

Công nghệ xử lý chất thải: 13 giải pháp cho EPR

Bình Phương Thảo 10/07/2026 11:44

Công nghệ xử lý chất thải đang chuyển sang thu hồi vật liệu, tái sử dụng nước và quản lý dữ liệu để đáp ứng yêu cầu EPR.

Ngày 21/7, tại TP.HCM, 13 công nghệ và thiết bị xử lý chất thải của 12 trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội và doanh nghiệp sẽ được giới thiệu. Danh mục gồm sản xuất biochar từ phụ phẩm nông nghiệp, tái chế nhựa, xử lý nước thải, ứng dụng vi sinh và quản lý chất thải bằng nền tảng số.

Các giải pháp xuất hiện trong thời điểm trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) bước sang giai đoạn thực hiện theo quy định mới. Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/5, quy định nhà sản xuất, nhập khẩu thuộc diện điều chỉnh phải tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc.

Doanh nghiệp có thể tự tái chế, ký hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế hoặc kết hợp các phương thức. Đơn vị trực tiếp tái chế phải có giấy phép môi trường phù hợp. Khối lượng sản phẩm, bao bì được tiếp nhận và xử lý cũng phải được nghiệm thu, xác nhận.

Quy định này kéo công nghệ xử lý chất thải ra khỏi khâu cuối nguồn. Một dây chuyền không chỉ có nhiệm vụ giảm lượng rác cần chôn lấp. Hệ thống còn phải thu hồi được vật liệu, kiểm soát chất lượng đầu ra và cung cấp dữ liệu đủ căn cứ để doanh nghiệp kê khai nghĩa vụ EPR.

bf26bf81-42f8-4c9d-9da8-892eeb006e25.png
Dây chuyền phân loại và thu hồi vật liệu tại một cơ sở tái chế. Ảnh minh họa do AI tạo

Công nghệ xử lý chất thải chuyển sang thu hồi tài nguyên

Nhóm giải pháp đầu tiên tập trung vào phụ phẩm nông nghiệp và vật liệu đã qua sử dụng. Phụ phẩm có thể được chuyển thành biochar và giấm gỗ. Nhựa thải được tái chế thành nguyên liệu cho vật liệu composite sinh học, bao bì hoặc sản phẩm mới.

Cách tiếp cận này đưa vật liệu trở lại chu trình sản xuất thay vì chỉ vận chuyển chất thải khỏi nhà máy hoặc khu dân cư. Hiệu quả của công nghệ phải được tính từ khâu phân loại nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng đến chất lượng sản phẩm sau tái chế.

Với biochar, thành phần phụ phẩm và điều kiện xử lý sẽ ảnh hưởng đến chất lượng than sinh học. Công nghệ cũng phải kiểm soát nhiệt độ, khí phát sinh và lượng năng lượng sử dụng trong quá trình chuyển đổi.

Tái chế nhựa phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu vào. Nhựa lẫn tạp chất hoặc nhiều loại polymer sẽ làm tăng chi phí làm sạch, phân loại và giảm độ ổn định của sản phẩm. Một dây chuyền có công suất lớn chưa chắc hoạt động hiệu quả nếu nguồn nguyên liệu không được thu gom đều và phân loại đúng.

Nhóm thứ hai gồm công nghệ xử lý, tái sử dụng nước và nước thải theo mô hình tuần hoàn. Danh mục có mô đun xử lý nước thải tại nguồn, máy ép bùn, thiết bị lọc dầu ăn và hệ thống xử lý nước thải cho bệnh viện, phòng khám, nhà máy, khu chế xuất.

Giải pháp vi sinh đa chủng phóng thích chậm được đề xuất cho môi trường chăn nuôi, nuôi yến và thủy sản. Hiệu quả của công nghệ sinh học phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, độ mặn, thành phần chất thải và quy trình vận hành. Kết quả trong phòng thử nghiệm không thể tự động chuyển thành hiệu quả ở quy mô trang trại hoặc nhà máy.

Dữ liệu trở thành một phần của tái chế

Bốn nhóm giải pháp liên quan trực tiếp đến số hóa gồm nền tảng kết nối thu gom và tái chế, hệ thống quản lý chất thải, phần mềm định lượng khí nhà kính và thiết bị quan trắc nước trực tuyến.

Nền tảng số có thể ghi nhận loại chất thải, khối lượng, thời gian bàn giao, nơi tiếp nhận và đơn vị xử lý. Các dữ liệu này phục vụ việc theo dõi dòng vật liệu từ nơi phát sinh đến cơ sở tái chế.

Tuy nhiên, một ứng dụng kết nối chưa đủ tạo thành chuỗi tái chế. Các đơn vị tham gia phải thống nhất cách cân, phân loại và xác nhận chất thải. Nếu dữ liệu đầu vào không được kiểm tra, cùng một lô vật liệu có thể bị ghi nhận nhiều lần hoặc không xác định được đã được xử lý theo phương pháp nào.

Phần mềm định lượng khí nhà kính cũng phụ thuộc vào số liệu về điện năng, nhiên liệu, vận chuyển và khối lượng chất thải. Công nghệ số hỗ trợ tổng hợp và tính toán nhưng không thay thế việc đo đếm tại cơ sở.

Hệ thống quan trắc trực tuyến cho phép theo dõi liên tục một số chỉ tiêu môi trường. Độ tin cậy của dữ liệu lại phụ thuộc vào cảm biến, vị trí lắp đặt, lịch hiệu chuẩn và cơ chế phát hiện sai số.

3fswtbi2eoyrs6t5mduotzamuhxeaftmro6uxm3dvubc5hssut572ulj96iiihmshwpszuex698rmb0zgny6udvtk815d-j_8xi4svgzfxgxauk5uxc-ibkjufyzjhftu2hbypwfliezbt2gffxugsmnwpt3qwwtcmwnrhut0bpwxxfeda1qqwarfm3w5vyu.jpg
Công nhân phân loại chất thải trên dây chuyền tách lọc rác tại Bình Dương (TP.HCM). Ảnh: Công nghiệp Môi trường

Công nghệ phải qua kiểm chứng vận hành

Trong một phân tích về lựa chọn công nghệ xử lý chất thải GS.TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: “Mỗi loại hình sẽ phụ thuộc vào quy mô, lượng rác thải thu gom, công suất và khả năng đầu ra”. Ông cũng lưu ý việc lựa chọn công nghệ phải cân nhắc chi phí vốn và yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nhận định này cho thấy không có một giải pháp phù hợp với mọi loại chất thải và mọi địa phương. Công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp không thể áp dụng nguyên trạng cho rác sinh hoạt. Hệ thống phù hợp với nước thải công nghiệp cũng chưa chắc đáp ứng được nước thải y tế.

Theo chương trình ngày 21/7, bốn công nghệ trọng tâm được dành khoảng 15 phút cho mỗi phần giới thiệu. Thời lượng này đủ để nêu nguyên lý và hướng ứng dụng, nhưng không thể thay thế quá trình thử nghiệm, đo hiệu suất và đánh giá chi phí vận hành.

Trước khi đầu tư, doanh nghiệp cần kiểm tra công suất thực tế, loại chất thải phù hợp, tỷ lệ thu hồi, mức tiêu thụ năng lượng, chất thải thứ cấp và yêu cầu bảo trì. Với nền tảng số, hợp đồng phải quy định rõ quyền sở hữu dữ liệu, phương thức xác nhận khối lượng và trách nhiệm khi số liệu sai lệch.

EPR tạo thêm nhu cầu cho công nghệ thu gom, phân loại, tái chế và truy xuất dữ liệu. Hiệu quả cuối cùng không nằm ở tên gọi của thiết bị hay phần mềm. Công nghệ chỉ có giá trị khi vận hành ổn định, tạo được vật liệu đầu ra và cung cấp dữ liệu có thể kiểm chứng.

Bình Phương Thảo