Công nghệ biogas thúc đẩy nông nghiệp ĐBSCL phát triển kinh tế tuần hoàn
Công nghệ biogas giúp xử lí chất thải, giảm khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển nông nghiệp bền vững.
Biến chất thải thành tài nguyên xanh
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ lâu được xem là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản.
Tuy nhiên, cùng với quy mô sản xuất ngày càng lớn, khu vực này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính (KNK), đặc biệt từ hoạt động chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp trở thành yêu cầu cấp thiết. Trong đó, công nghệ biogas và phân hủy kị khí (Anaerobic Digestion - AD) được đánh giá là giải pháp khoa học - công nghệ quan trọng, giúp xử lí chất thải, thu hồi năng lượng sạch và hình thành mô hình sản xuất tuần hoàn.
Theo PGS.TS. Phạm Văn Toàn, Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, ĐBSCL hiện có khoảng 2,4 - 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, gần 90% lượng gạo xuất khẩu và khoảng 70% sản lượng trái cây của cả nước. Nông nghiệp tạo sinh kế cho khoảng 65% dân cư nông thôn trong vùng.
Tuy nhiên, phương thức sản xuất thâm canh trong nhiều năm đã làm gia tăng áp lực lên môi trường. Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, tiêu thụ nhiều nước tưới, đốt rơm rạ sau thu hoạch và xử lí chưa hiệu quả chất thải chăn nuôi đang góp phần làm tăng lượng phát thải KNK.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, chất thải hữu cơ nếu không được thu gom, xử lý đúng quy trình sẽ phát sinh khí methane (CH₄), một trong những loại khí nhà kính có khả năng gây nóng lên toàn cầu cao hơn nhiều lần so với CO₂. Đồng thời, chất thải còn gây ô nhiễm nguồn nước, phát sinh mùi hôi và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Theo PGS.TS. Trần Sỹ Nam, Đại học Cần Thơ: Chất thải nông nghiệp không nên được xem là gánh nặng môi trường mà cần được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 62 triệu tấn chất thải rắn và gần 300 triệu tấn chất thải lỏng từ hoạt động chăn nuôi. Nếu được xử lí bằng công nghệ phù hợp, nguồn chất thải này có thể trở thành nguyên liệu sản xuất năng lượng sạch, phân bón hữu cơ, góp phần giảm phát thải và nâng cao giá trị sản xuất.
Công nghệ phân hủy kỵ khí tạo năng lượng sạch
Một trong những giải pháp được các nhà khoa học quan tâm là công nghệ phân hủy kị khí để sản xuất khí sinh học biogas. Đây là quá trình sử dụng hệ vi sinh vật phân giải chất hữu cơ trong môi trường không có oxy, trải qua các giai đoạn thủy phân, lên men axit, tạo axetat và sinh methane.
Ưu điểm nổi bật của công nghệ này là khả năng xử lí đa dạng nguồn nguyên liệu như phân gia súc, gia cầm, bùn thải thủy sản và phụ phẩm nông nghiệp. Trong quá trình phân hủy, khí methane được thu hồi để sử dụng làm nhiên liệu đun nấu, phát điện hoặc cung cấp nhiệt cho sản xuất.
Bên cạnh đó, phần bã thải sau xử lý vẫn chứa nhiều chất dinh dưỡng, có thể sử dụng làm phân bón hữu cơ, góp phần giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học và cải thiện chất lượng đất.
Các chuyên gia cho rằng công nghệ biogas hiện nay có thể áp dụng linh hoạt ở nhiều quy mô khác nhau, từ hộ chăn nuôi nhỏ, trang trại, hợp tác xã đến các nhà máy xử lí chất thải tập trung. Tại Việt Nam, nhiều công nghệ như PE, composite… đã được nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng thực tế, đặc biệt tại các tỉnh ĐBSCL.
Không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường, hệ thống biogas còn mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân. Đối với các hộ chăn nuôi, lượng khí sinh học tạo ra có thể phục vụ nấu ăn, thắp sáng hoặc vận hành một số thiết bị sản xuất, qua đó giảm chi phí năng lượng.
Kết hợp công nghệ và chính sách để phát triển bền vững
Bên cạnh công nghệ biogas, giảm phát thải trong nông nghiệp ĐBSCL cần được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp khác như cải tiến quy trình canh tác, sử dụng tài nguyên hiệu quả và ứng dụng công nghệ số.

Trong sản xuất lúa, các mô hình “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng”, hệ thống canh tác lúa cải tiến và kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) được xem là hướng đi hiệu quả nhằm giảm phát sinh methane, tiết kiệm nước và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.
Theo ông Nguyễn Tấn Tuấn, Công ty Thiết bị Kỹ thuật DTP (Tuấn Biogas): Việc tận dụng rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất compost, than sinh học (biochar) hoặc làm nguyên liệu cho các mô hình kinh tế tuần hoàn cũng góp phần giảm phát thải, thay đổi thói quen sản xuất truyền thống.
Cùng với đó, ứng dụng khoa học công nghệ như cảm biến môi trường, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), máy bay không người lái (drone) và hệ thống dữ liệu lớn sẽ giúp nông dân kiểm soát chính xác lượng nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giảm lãng phí đầu vào.
Theo các chuyên gia, để chuyển đổi xanh thành công, ĐBSCL cần xây dựng hệ thống MRV (đo lường - báo cáo - thẩm định phát thải KNK), tạo nền tảng phát triển tín chỉ carbon trong nông nghiệp. Đồng thời, cần thúc đẩy sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ nhằm nâng cao giá trị nông sản và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Trong tương lai, khi các giải pháp kĩ thuật, công nghệ và chính sách được triển khai đồng bộ, nông nghiệp ĐBSCL không chỉ giảm được lượng phát thải KNK mà còn mở ra cơ hội phát triển các mô hình sản xuất xanh, thông minh và tuần hoàn.
Từ việc xử lí chất thải bằng công nghệ biogas đến ứng dụng công nghệ số trong quản lí sản xuất, ĐBSCL đang từng bước chuyển đổi từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp phát thải thấp, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam.

.jpg)
