Thời sự

Khơi thông thể chế để KH&CN, ĐMST và CĐS bứt phá

Nam Phong 16/07/2026 07:20

Việt Nam đang đứng trước thời điểm chiến lược, lấy việc khơi thông thể chế và khoa học công nghệ làm động lực then chốt để bứt phá, vươn mình mạnh mẽ trong kỉ nguyên phát triển mới.

Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng

Bước ngoặt lịch sử

Lịch sử phát triển của các quốc gia thịnh vượng trên thế giới thường được ghi dấu bởi những thời khắc "phá băng" về tư duy, đặc biệt là tư duy thể chế.

Đối với Việt Nam, trọng tâm của chặng đường hiện tại chính là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây không chỉ là một văn bản pháp lí, mà là "đòn bẩy" chính trị mạnh mẽ, xác định rõ các điểm nghẽn và yêu cầu rà soát, xóa bỏ các thủ tục hành chính cản trở. Nghị quyết này đóng vai trò là "kim chỉ nam", mở đường cho các cơ chế đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi nhất để KH&CN, ĐMST và CĐS trở thành động lực tăng trưởng mũi nhọn.

z8045579177153_b58592cb7a9581e347cabc57e8b797ca(1).jpg
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu tại Hội nghị chiều 15/7. Ảnh: NP

Chúng ta không còn đứng trước lựa chọn của sự phát triển cầm chừng; chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn của vận mệnh: Hoặc bứt phá trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, hoặc chấp nhận rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đảng và Nhà nước đã sớm nhận diện rõ thách thức này và đưa ra quyết sách chiến lược: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào khoa học công nghệ (KH&CN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS).

Để thực hiện cú chuyển mình lịch sử đó, điều kiện tiên quyết không phải là vốn hay nguồn nhân lực đơn thuần, mà là một cuộc "đại phẫu" về cơ chế, chính sách. Việc khơi thông thể chế được xác định là chìa khóa vạn năng để giải phóng mọi nguồn lực trí tuệ và vật chất đang còn tiềm ẩn trong xã hội.

Khối lượng lập pháp đồ sộ và hành trình khơi thông thể chế

Nhìn lại chặng đường 18 tháng qua, kể từ khi Nghị quyết 57 ra đời, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã trải qua một cuộc "chạy nước rút" chưa từng có tiền lệ. Tại Hội nghị "Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển" diễn ra chiều 15/7, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân cho biết, khối lượng công việc mà bộ máy nhà nước triển khai trong thời gian ngắn vừa qua là vô cùng đồ sộ. Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 10 luật, ban hành 33 nghị định, 1 nghị quyết, cùng hàng chục quyết định và thông tư hướng dẫn.

bo-truong-quan khơi thông thể chế.jpg

Nếu nhìn vào những con số khô khan, đó chỉ là sự gia tăng về số lượng văn bản. Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào nội hàm của công tác khơi thông thể chế, chúng ta thấy được một sự đổi mới tư duy mạnh mẽ chưa từng thấy. Lãnh đạo Bộ KH&CN chia sẻ, khi bắt đầu đảm nhận trọng trách trong giai đoạn này, thách thức không chỉ là soạn thảo các điều luật, mà là làm sao để thoát khỏi tư duy quản lí "cầm chừng" truyền thống vốn đã kéo dài hàng thập kỉ.

Điển hình là lĩnh vực chuyển đổi số. Nghị định 43 về mua sắm, đấu thầu trong chuyển đổi số đã tháo gỡ được những "nút thắt" khiến nhiều địa phương và bộ ngành trước đây rơi vào trạng thái "sợ sai, không dám làm". Đối với công nghệ chiến lược - một lĩnh vực đầy rủi ro và khó định lượng - hệ thống pháp luật đã dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn. Lần đầu tiên, chúng ta có những văn bản quy phạm pháp luật mạnh dạn tham chiếu tới thông lệ quốc tế.

Chúng ta đã làm được rất nhiều việc, từ chỗ thể chế là điểm nghẽn, nay ta chuyển thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh của đất nước.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng

Thay vì áp dụng định mức cứng nhắc theo kiểu "cộng trừ nhân chia" truyền thống, chúng ta so sánh mức thù lao, định mức chuyên gia với các quốc gia như Singapore, Thái Lan, Indonesia. Đây là bước ngoặt thực sự trong tư duy lập pháp, một minh chứng cho thấy công tác khơi thông thể chế đang đi đúng hướng, thực tế và hội nhập.

Hơn thế nữa, các quỹ tài chính như Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) hay Quỹ Đổi mới công nghệ đã được tái định hình. Từ chỗ chỉ bó hẹp trong nghiên cứu cơ bản, các quỹ này giờ đây đã mở rộng chức năng sang hỗ trợ phát triển sản phẩm mẫu, thương mại hóa và ươm tạo khởi nghiệp. Đó chính là sự thay đổi bản chất, đưa thể chế từ "kìm hãm" sang "kiến tạo".

Từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo: Lời hiệu triệu từ Chính phủ

Khi nền móng pháp lý đã cơ bản hoàn thiện, bài toán trọng tâm đặt ra không còn nằm ở việc soạn thảo thêm bao nhiêu điều luật, mà là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất. Trong bối cảnh đó, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã nhấn mạnh phương châm hành động mang tính định hướng cho toàn hệ thống: "Ít nói khó, nhiều cách làm; ít kiến nghị, nhiều hành động; lấy kết quả thực tiễn làm thước đo cao nhất."

z8045579177128_51dbadd42fa99210c58e6d0533c692dc(1).jpg
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: "Đừng đổ cho cơ chế; chúng ta làm trong sáng vì lợi ích chung, không ai xử lí chúng ta nếu như lỡ mà thoát... Cán bộ phải dám đổi mới, dám làm, chịu trách nhiệm vì lợi ích chung." - Ảnh: NP

Đây không chỉ là một chỉ đạo hành chính, mà là một sự chuyển dịch văn hóa công vụ cần thiết. Trong nhiều năm, "cơ chế" thường được coi là lá chắn để cán bộ thoái thác trách nhiệm. Nhưng giờ đây, khi công cuộc khơi thông thể chế đã tạo ra hành lang thông thoáng, cái mà chúng ta thiếu là "dũng khí". Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thẳng thắn chia sẻ về căn bệnh đùn đẩy trách nhiệm: "Đừng đổ cho cơ chế; chúng ta làm trong sáng vì lợi ích chung, không ai xử lí chúng ta nếu như lỡ mà thoát... Cán bộ phải dám đổi mới, dám làm, chịu trách nhiệm vì lợi ích chung".

Để tạo ra môi trường an toàn cho sự đổi mới, Chính phủ đang khẩn trương trình Quốc hội cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những người làm khoa học với động cơ trong sáng. Đây được coi là chiếc "áo giáp" pháp lí vững chắc nhất, cho phép đội ngũ trí thức, các nhà quản lí không còn nỗi sợ "sai lầm" khi bước chân vào những lĩnh vực mới. Làm khoa học, làm công nghệ thì không thể tránh khỏi rủi ro, nhưng rủi ro trong đổi mới là rủi ro có thể chấp nhận được, thậm chí là cần thiết, miễn là tâm thế và hành động xuất phát từ khát vọng cống hiến cho đất nước.

Hệ sinh thái "Bốn nhà": Khi liên kết không còn là khẩu hiệu

Sự thành công của chiến lược phát triển KH&CN không thể đến từ nỗ lực đơn độc của cơ quan quản lí nhà nước. Nó đòi hỏi sự đồng tâm hiệp lực của toàn bộ hệ sinh thái kinh tế - xã hội, trong đó mối liên kết giữa "Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà trường - Doanh nghiệp" phải trở nên thực chất hơn bao giờ hết.

1. Đối với các nhà khoa học: Dấn thân và cống hiến

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã khơi gợi niềm cảm hứng lớn lao khi dẫn chứng về vợ chồng Giáo sư Trần Thanh Vân. Dù đã ở tuổi 93, họ vẫn miệt mài với khát vọng cống hiến. Đó là tinh thần mà đất nước cần. Các nhà khoa học không thể chỉ dừng lại ở việc tạo ra tri thức, mà phải là người đồng hành cùng dân tộc trong việc giải quyết những bài toán thực tiễn. Nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ nhu cầu, phải được đo lường bằng hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa.

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không còn bị trói buộc bởi cơ chế dự toán cứng nhắc hàng năm, mà được mở rộng chức năng từ nghiên cứu cơ bản sang phát triển sản phẩm mẫu, hỗ trợ thương mại hóa và thúc đẩy khởi nghiệp.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân

2. Đối với các viện nghiên cứu và trường đại học: Nôi ươm mầm đột phá

Đây phải là những trung tâm trí thức, là nôi ươm mầm cho tư duy đột phá. Nhà trường không thể đứng ngoài hệ sinh thái khởi nghiệp. Cần đẩy mạnh việc đưa các chương trình khởi nghiệp vào ngay trong khuôn viên trường, để sinh viên, nghiên cứu sinh không chỉ học lí thuyết mà còn học cách hiện thực hóa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị kinh tế.

3. Đối với cộng đồng doanh nghiệp: Trụ cột then chốt

Bộ trưởng Vũ Hải Quân và Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đều thống nhất quan điểm: Doanh nghiệp phải vươn lên thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Đã qua rồi cái thời doanh nghiệp chỉ chờ đợi vào ưu đãi. Ngày nay, doanh nghiệp phải chủ động đặt hàng các viện nghiên cứu, chủ động đầu tư cho R&D và chịu trách nhiệm thương mại hóa sản phẩm. Chính sự chủ động này mới là "động cơ" thật sự để đưa công nghệ ra thị trường.

Giải ngân vốn đầu tư công: Thước đo của năng lực hành động

Một vấn đề "nóng" đã được mổ xẻ thẳng thắn tại hội nghị chính là việc giải ngân vốn đầu tư cho KH&CN. Dù Đảng và Nhà nước đã dành sự ưu tiên đặc biệt với nguồn lực tài chính vô cùng lớn - khoảng 3% ngân sách, tương đương 103.000 tỉ đồng - nhưng tiến độ giải ngân vẫn là một bài toán khó.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh nguyên lí thực tế: "Tiền không tiêu được đồng nghĩa với việc công nghệ chậm nghiên cứu, sản phẩm chậm hình thành và cơ hội tăng trưởng bị bỏ lỡ." Đây không chỉ là câu chuyện của con số, mà là câu chuyện của hiệu quả đầu tư và trách nhiệm công vụ. Khi đất nước đang khó khăn mà nguồn lực đã bố trí nhưng không sử dụng được, đó là một sự lãng phí cơ hội tăng trưởng.

Tiền không tiêu được đồng nghĩa với việc công nghệ chậm nghiên cứu, sản phẩm chậm hình thành và cơ hội tăng trưởng bị bỏ lỡ.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng

Vì vậy, từ nay đến cuối năm 2026 và các năm tiếp theo, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công nghệ sẽ trở thành một trong những tiêu chí KPI quan trọng nhất để đánh giá người đứng đầu các bộ ngành, địa phương.

Bộ KH&CN sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ. Đơn vị nào làm tốt sẽ được biểu dương, đơn vị nào trì trệ sẽ phải chịu trách nhiệm. Đây là thái độ làm việc quyết liệt mà chúng ta cần duy trì để khơi thông thể chế một cách thực chất, không lãng phí nguồn lực quốc gia.

Vươn mình trong kỉ nguyên số

Việt Nam đang đứng trước cánh cửa của một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên của sự vươn mình lịch sử. Những nỗ lực xây dựng thể chế trong 18 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 vừa qua chỉ mới là bước khởi đầu của một hành trình dài hơi. Nhưng những bước đi đầu tiên đó đã tạo nên một nền tảng pháp lý tương đối vững chắc, một "đường băng" đã sẵn sàng cho sự cất cánh của các dự án khoa học và công nghệ lớn.

Khi quá trình khơi thông thể chế được thực hiện triệt để, đồng bộ, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt. Sự khác biệt đó không nằm ở số lượng văn bản, mà nằm ở số lượng công nghệ mà người Việt Nam làm chủ, số lượng doanh nghiệp ĐMST vươn mình ra khu vực và thế giới, và quan trọng nhất là đóng góp thực chất của KH&CN vào mức tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.

Chủ trương đã đúng, thể chế đã được mở đường, nguồn lực đã được chuẩn bị, và đội ngũ trí thức, doanh nghiệp đang ngày càng lớn mạnh. Vấn đề còn lại duy nhất là ý chí hành động. Khi mỗi cán bộ, mỗi nhà khoa học và mỗi doanh nhân cùng chung tay thực hiện với tinh thần dấn thân, chúng ta sẽ viết nên kì tích. KH&CN, ĐMST và CĐS không còn là những khái niệm trừu tượng, mà đã, đang và sẽ trở thành bệ phóng thực tế, đưa đất nước Việt Nam đi lên trên con đường giàu mạnh, văn minh và thịnh vượng vào năm 2045.

Đã đến lúc chúng ta không chỉ nói về khát vọng, mà là hành động để hiện thực hóa khát vọng đó. Và hành trình đó bắt đầu ngay từ việc thực thi một cách quyết liệt, hiệu quả hệ thống thể chế mà chúng ta đã dày công xây dựng.

Nam Phong