Thời sự

Doanh nghiệp Việt Nam trước cuộc tái cấu trúc xanh

Hoàng Bắc 20/07/2026 16:35

Mỗi năm, Việt Nam phát sinh khoảng 3,27 triệu tấn rác thải nhựa, nhưng chỉ khoảng 10% được tái chế và hơn 70 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp vẫn chủ yếu bị đốt bỏ hoặc xử lí thủ công.

Khi EPR (trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) bước vào giai đoạn thực thi bắt buộc, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu pháp lí vừa đứng trước yêu cầu tái cấu trúc toàn diện về công nghệ, quản trị và mô hình sản xuất để hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

EPR là yêu cầu cạnh tranh

Theo TS. Thái Phương Vũ - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, EPR đánh dấu sự chuyển dịch từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn. Trước đây, trách nhiệm của doanh nghiệp gần như kết thúc khi sản phẩm được bán ra thị trường. Hiện doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ thu hồi, tái chế đến xử lí chất thải.

bf26bf81-42f8-4c9d-9da8-892eeb006e25.png
Dây chuyền phân loại và thu hồi vật liệu tại một cơ sở tái chế. Ảnh minh họa.

Các quy định mới đưa EPR từ cơ chế khuyến khích sang bắt buộc. EPR yêu cầu doanh nghiệp kê khai sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường, Đồng thời thực hiện tỷ lệ tái chế theo quy định hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Một số nhóm vật liệu đã có tỉ lệ tái chế bắt buộc khá cao như bao bì giấy 20%, bao bì PET 22% và bao bì nhôm 22%.

TS.Thái Phương Vũ cho rằng, doanh nghiệp cần chủ động rà soát khối lượng sản phẩm thuộc diện EPR. Đó là xây dựng kế hoạch tài chính, hoàn thiện quy trình kê khai điện tử và lựa chọn hình thức thực hiện phù hợp.

“Nếu chỉ coi EPR là một nghĩa vụ pháp lí, doanh nghiệp sẽ phải chạy theo quy định. Nhưng nếu coi đây là động lực đổi mới, EPR sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn”, ông nhận định.

Không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ quy định, các chuyên gia cho rằng EPR cần được tích hợp với chiến lược phát triển bền vững và quản trị ESG.

Theo TS. Trần Thanh Tâm - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, doanh nghiệp hiện phải đối mặt với “áp lực kép”. Đó là đáp ứng các quy định về EPR cùng yêu cầu ngày càng khắt khe của nhà đầu tư và thị trường quốc tế về ESG.

Ông cho rằng, oanh nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường theo các chuẩn mực báo cáo phát triển bền vững quốc tế, trong đó có GRI 306 về quản lý chất thải và ISSB (IFRS S1, IFRS S2) về công bố các rủi ro, cơ hội phát triển bền vững và biến đổi khí hậu.

Điều này giúp doanh nghiệp minh bạch thông tin, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời ứng dụng các công nghệ số như IoT, blockchain để truy xuất nguồn gốc chất thải và minh bạch hóa dữ liệu môi trường.

Đâu là "chìa khoá" thành công ?

Ở góc độ công nghệ, đại diện Công ty TNHH EGIT BK cho biết, Việt Nam hiện phát sinh hơn 70 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm. Tuy nhiên phần lớn vẫn bị đốt bỏ hoặc xử lí thủ công.

Công nghệ Biochar được doanh nghiệp giới thiệu có thể chuyển đổi các loại phụ phẩm như rơm rạ, trấu, lõi ngô hay vỏ trái cây thành than sinh học (Biochar), giấm gỗ và khí tổng hợp (syngas).

3fswtbi2eoyrs6t5mduotzamuhxeaftmro6uxm3dvubc5hssut572ulj96iiihmshwpszuex698rmb0zgny6udvtk815d-j_8xi4svgzfxgxauk5uxc-ibkjufyzjhftu2hbypwfliezbt2gffxugsmnwpt3qwwtcmwnrhut0bpwxxfeda1qqwarfm3w5vyu.jpg
Công nhân phân loại chất thải trên dây chuyền tách lọc rác tại TP.HCM. Ảnh: Công nghiệp Môi trường.

Không chỉ giảm phát thải khí nhà kính, Biochar giúp cải tạo đất, tăng khả năng giữ nước, lưu giữ carbon trong thời gian dài. Trong khi khí tổng hợp được tái sử dụng để cấp nhiệt cho hệ thống sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Đây là hướng đi giúp biến chất thải thành tài nguyên, tạo thêm giá trị kinh tế và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng đồng thời các yêu cầu về EPR và ESG.

Theo ông Chung Tấn Cường - Chủ tịch Hiệp hội Nhựa TP.HCM, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở khung pháp lí mà ở hệ thống thu gom và tái chế.

Mỗi năm, Việt Nam phát sinh khoảng 3,27 triệu tấn rác thải nhựa, nhưng chỉ khoảng 10% được tái chế. Trong khi 90% còn lại bị chôn lấp, đốt hoặc thất thoát ra môi trường.

Riêng tại TP.HCM, mỗi ngày có khoảng 1.600 tấn rác thải nhựa thất thoát, song chỉ khoảng 200 tấn được thu hồi. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, khu vực TP.HCM mới phát sinh khoảng 568.000 tấn rác thải nhựa mỗi năm. Điều này tạo ra nguồn nguyên liệu tái chế rất lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả.

Theo ông Chung Tấn Cường, lực lượng ve chai hiện thu gom khoảng 30% lượng rác thải nhựa nhưng hoạt động còn manh mún, thiếu liên kết và chưa được số hóa để tham gia chuỗi EPR. Để giải quyết khoảng trống này, Hiệp hội Nhựa TP.HCM đề xuất mô hình "Gian hàng tái chế xanh" như một giải pháp "ba trong một".

Đó là điểm thu gom và phân loại rác tại nguồn, vừa hỗ trợ doanh nghiệp số hóa dữ liệu và chứng từ thực hiện EPR. Đồng thời tạo động lực để người dân tham gia phân loại rác thông qua các chương trình đổi quà, tích điểm.

“Nếu được nhân rộng, mô hình sẽ góp phần hình thành chuỗi thu gom - tái chế hiện đại, tạo nguồn nguyên liệu tái chế chất lượng cao và giảm đáng kể lượng rác thải nhựa thất thoát ra môi trường”, ông Cường nói.

Từ hoàn thiện chính sách, ứng dụng công nghệ Biochar đến xây dựng hạ tầng thu gom và quản trị dữ liệu ESG, các chuyên gia đều chung nhận định rằng EPR không còn đơn thuần là một quy định về môi trường. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh đang trở thành “tấm vé” để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Và có thể nói, EPR chính là động lực thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tái cấu trúc mô hình sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn.

Hoàng Bắc