Nhịp đập công nghệ

Thương mại hóa công nghệ: Việt Nam có dám trao quyền cho nhà khoa học?

Tuyết Nhung (thực hiện) 24/07/2026 10:24

Trao đổi với Một Thế Giới, bà Lê Thị Khánh Vân cho rằng rào cản lớn nhất khiến dòng chảy công nghệ từ viện, trường chưa chảy mạnh vào doanh nghiệp chính là sự lệch pha giữa cơ chế quản lí tài chính công với bản chất rủi ro của khoa học.

Mối liên kết "Bốn nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà trường/Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp) từ lâu đã được xác định là động lực cốt lõi để phát triển kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo quốc gia. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn, sợi dây liên kết này vẫn bộc lộ nhiều mắt xích bị đứt gãy.

Bà Lê Thị Khánh Vân - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KH-CN và Khởi nghiệp (Hội Nữ trí thức Việt Nam), Nguyên Phó Cục trưởng Cục Thông tin KH-CN Quốc gia, Bộ KH-CN, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Ý, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH-CN Việt Nam.
Bà Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI).

Để làm rõ những rào cản thể chế mang tính gốc rễ khiến dòng chảy công nghệ từ viện, trường chưa thể chảy mạnh vào dòng máu doanh nghiệp, phóng viên Tạp chí Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với bà Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI).

Cơ chế tài chính công - rào cản gốc rễ trói chân nhà khoa học

- Thưa bà, dù liên kết "Bốn nhà" được nhắc đến rất nhiều như một chiến lược trọng tâm, nhưng thực tế triển khai vẫn chưa đạt hiệu quả thực chất như kì vọng. Nếu phải chỉ ra một "rào cản thể chế" lớn nhất hiện nay, bà sẽ gọi tên nút thắt nào?

- Bà Lê Thị Khánh Vân: Nếu phải chỉ ra một nguyên nhân gốc rễ nhất khiến mối liên kết này bị nghẽn, tôi cho rằng đó chính là sự xung đột gay gắt giữa cơ chế quản lí tài chính công với bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nói một cách dễ hiểu, chúng ta đang dùng một bộ công cụ quản lí đầu tư công/hành chính (vốn đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, hữu hình và không được phép sai sót) để quản lí hoạt động nghiên cứu sáng tạo (vốn chứa đựng tính rủi ro cao, sản phẩm ban đầu là vô hình và có tỉ lệ thất bại tự nhiên). Sự lệch pha hệ điều hành này thể hiện rất rõ ở ba điểm nghẽn lớn:

Thứ nhất là hành chính hóa hoạt động nghiên cứu và tâm lí ngại rủi ro. Nghiên cứu khoa học bản chất là một quá trình thử nghiệm và khám phá. Nhưng cơ chế quản lí ngân sách nhà nước hiện nay lại đòi hỏi quy trình thanh quyết toán cực kỳ nghiêm ngặt về hóa đơn, chứng từ.

Các nhà khoa học đôi khi phải tốn đến 30 - 40% thời gian để làm kế toán, lo đối soát từng tờ hóa đơn bán lẻ thay vì tập trung toàn bộ trí lực vào chuyên môn.

23a3fc173eecbfb2e6fd.jpg
Bà Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI).

Nhiều nhà khoa học giàu kinh nghiệm khi về hưu đã mang theo toàn bộ "tri thức ẩn" cất vào tủ kính

Quan trọng hơn là tư duy không chấp nhận rủi ro. Ngân sách nhà nước cấp ra luôn yêu cầu phải có sản phẩm cụ thể, nghiệm thu đạt loại ưu. Áp lực này vô hình trung đẩy các nhà khoa học chọn những đề tài an toàn, nghiên cứu những vấn đề dễ làm để đảm bảo nghiệm thu êm đẹp rồi... cất tủ kính.

Họ không dại gì dấn thân vào các nghiên cứu đột phá, chấp nhận rủi ro cao mà thị trường và doanh nghiệp thực sự đang khao khát.

Thứ hai là điểm nghẽn định giá và xử lí tài sản công. Đây chính là vật cản lớn nhất khiến công nghệ từ Viện/Trường không thể thương mại hóa. Kết quả nghiên cứu tạo ra từ ngân sách nhà nước được coi là tài sản công. Nhưng định giá một tài sản trí tuệ vô hình là bài toán vô cùng phức tạp:

Nếu định giá quá thấp, nhà khoa học và lãnh đạo viện, trường luôn nơm nớp lo sợ trách nhiệm làm "thất thoát tài sản nhà nước".

Nếu định giá quá cao để an toàn, doanh nghiệp lại không đủ nguồn lực tài chính để mua.

Bên cạnh đó, quy trình phê duyệt chuyển giao, góp vốn bằng công nghệ qua các tầng nấc cơ quan quản lý nhà nước mất rất nhiều thời gian. Doanh nghiệp cần cơ hội kinh doanh tính bằng tuần, bằng tháng, họ không thể chờ đợi quy trình phê duyệt thủ tục hành chính kéo dài hàng năm trời.

Thứ ba là trục trặc trong mô hình doanh nghiệp khởi nguồn và chia sẻ lợi ích. Ở các quốc gia phát triển, mô hình doanh nghiệp Spin-off từ đại học phát triển rất mạnh.

Ở Việt Nam, mặc dù hành lang pháp lí hiện đại đã cho phép viên chức, giảng viên có quyền thành lập, quản lí doanh nghiệp để thương mại hóa công nghệ của mình, nhưng cơ chế thực thi vẫn chưa đồng bộ.

Cơ chế phân chia lợi nhuận giữa Nhà nước (đơn vị cấp vốn), Nhà trường (đơn vị quản lí) và Nhà khoa học (người tạo ra công nghệ) chưa đủ sức hấp dẫn.

Xảy ra thực trạng đáng buồn là nhiều nhà khoa học giàu kinh nghiệm khi về hưu đã mang theo toàn bộ "tri thức ẩn" cất vào tủ kính, không thể chuyển giao cho doanh nghiệp chỉ vì vướng mắc cơ chế phân chia quyền lợi này.

Điểm nghẽn tài sản công và "cơn đau đầu" định giá trí tuệ

- Thưa bà, ngoài quy trình thủ tục, việc đưa một kết quả nghiên cứu thành công ra thị trường dường như còn vướng một "tảng đá" rất lớn khác mang tên: Quản lí tài sản công?

- Bà Lê Thị Khánh Vân: Đúng vậy. Đây chính là vật cản lớn nhất khiến công nghệ từ Viện/Trường không thể đi vào dòng máu của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu được tạo ra từ ngân sách nhà nước nghiễm nhiên được xem là tài sản công. Nhưng định giá một tài sản trí tuệ vô hình là bài toán vô cùng phức tạp mà thể chế hiện hành chưa giải quyết triệt để:

Bẫy "làm thất thoát": Nếu định giá quá thấp, nhà khoa học và lãnh đạo viện, trường luôn nơm nớp lo sợ trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước, một rủi ro pháp lí rất nghiêm trọng.

Bẫy "giá treo trên mây": Nếu định giá quá cao để an toàn về mặt pháp lí, doanh nghiệp lại không đủ nguồn lực tài chính để mua, hoặc cảm thấy không xứng đáng với rủi ro thị trường mà họ phải gánh chịu.

Bên cạnh đó, quy trình phê duyệt chuyển giao, góp vốn bằng công nghệ qua các tầng nấc cơ quan quản lí nhà nước mất rất nhiều thời gian. Trong khi đó, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp được tính bằng tuần, bằng tháng.

Họ không thể và không bao giờ chịu chờ đợi một quy trình phê duyệt thủ tục hành chính kéo dài hàng năm trời. Đến khi xong thủ tục, công nghệ đó có thể đã lạc hậu trên thị trường.

- Ở các quốc gia phát triển, doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học là cầu nối hữu hiệu nhất để đưa công nghệ ra thị trường. Tại sao mô hình này tại Việt Nam vẫn chưa thể bứt phá, thưa bà?

- Bà Lê Thị Khánh Vân: Dù hành lang pháp lí hiện nay (như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã mở đường cho phép viên chức, giảng viên thành lập, quản lí doanh nghiệp để thương mại hóa công nghệ của mình, nhưng cơ chế thực thi vẫn chưa đồng bộ. Ba nút thắt chính nằm ở:

Ranh giới công - tư mơ hồ: Giảng viên, nhà nghiên cứu khi đứng ra thành lập doanh nghiệp Spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) rất dễ vướng vào xung đột lợi ích hoặc bị coi là sử dụng thời gian, cơ sở vật chất công cho mục đích riêng.

Phân chia lợi ích thiếu hấp dẫn: Cơ chế phân chia lợi nhuận giữa Nhà nước (đơn vị cấp vốn), Nhà trường (đơn vị quản lí) và Nhà khoa học (người tạo ra công nghệ) chưa đủ sức hút để đền đáp công sức nghiên cứu.

Lãng phí "tri thức ẩn": Xảy ra một thực trạng rất đáng buồn là nhiều nhà khoa học giàu kinh nghiệm khi về hưu đã mang theo toàn bộ "tri thức ẩn", vốn là bí quyết công nghệ tích lũy qua hàng thập kỉ, cất vào tủ kính. Họ không thể chuyển giao hay khai thác thương mại chỉ vì vướng mắc cơ chế phân chia quyền lợi và nỗi lo thủ tục pháp lí.

- Để "sợi dây Bốn nhà" không còn đứt gãy và thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, theo bà chúng ta cần những giải pháp căn cơ nào trong thời gian tới?

- Bà Lê Thị Khánh Vân: Chúng ta không thể kì vọng một kết quả mới nếu vẫn giữ tư duy quản lí cũ. Để "mở khóa" cho dòng chảy công nghệ, cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp mang tính đột phá:

Dũng cảm chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu: Cần xây dựng cơ chế "Chấp nhận rủi ro có kiểm soát" (Sandbox) trong nghiên cứu khoa học. Ngân sách nhà nước cấp cho khoa học cần được quản lí theo cơ chế quỹ, đánh giá dựa trên hiệu quả của một danh mục nghiên cứu thay vì soi xét từng đề tài đơn lẻ.

Đề tài không thành công về mặt sản phẩm nhưng chỉ ra được con đường sai để tránh cũng phải được ghi nhận là một kết quả khoa học.

0c1b1aaed855590b0044.jpg
Bà Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI).

Điều chúng ta thiếu nhất hiện nay là một hệ điều hành thể chế linh hoạt, dám tin tưởng và dám trao quyền cho nhà khoa học.

Giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ cho cơ sở nghiên cứu: Cần mạnh dạn trao quyền sở hữu hoặc quyền khai thác thương mại kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cho chính Viện/Trường chủ trì (tương tự như Đạo luật Bayh-Dole rất thành công của Mỹ). Khi Viện/Trường được toàn quyền định giá, chuyển giao và chịu trách nhiệm, quy trình sẽ rút ngắn từ vài năm xuống còn vài tuần.

Hoàn thiện hệ sinh thái trung gian và mô hình Spin-off: Cần phát triển mạnh mẽ các tổ chức trung gian khoa học và công nghệ (sàn giao dịch công nghệ, văn phòng chuyển giao công nghệ - TTO tại các trường đại học).

Các tổ chức này sẽ thay nhà khoa học làm nhiệm vụ định giá, đàm phán, tìm kiếm thị trường. Đồng thời, cần có hướng dẫn pháp lí rõ ràng bảo vệ giảng viên khi tham gia điều hành doanh nghiệp Spin-off để họ yên tâm cống hiến.

Nguồn lực khoa học công nghệ của Việt Nam không thiếu, trí tuệ của nhà khoa học Việt Nam không yếu. Điều chúng ta thiếu nhất hiện nay là một hệ điều hành thể chế linh hoạt, dám tin tưởng và dám trao quyền cho nhà khoa học.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Tuyết Nhung (thực hiện)