Công nghệ quân sự

Tên lửa JL-2 của Trung Quốc có gì đặc biệt?

Hoàng Vũ 28/07/2026 09:11

Ngày 6/7, Trung Quốc phóng một tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm hạt nhân ra Thái Bình Dương. Bắc Kinh không công bố loại tên lửa được sử dụng, nhưng một số chuyên gia nghiêng về khả năng đó là JL-3, thế hệ mới nhất trong dòng tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm của nước này.

Sự xuất hiện của JL-3 cũng khiến vũ khí tiền nhiệm JL-2 được chú ý trở lại. Đây là loại vũ khí đã giúp Trung Quốc chuyển lực lượng hạt nhân trên biển từ một chương trình thử nghiệm kéo dài nhiều năm thành năng lực răn đe có thể triển khai trong thực tế.

JL là viết tắt của Julang, thường được dịch là “Sóng lớn”. JL-2 được Trung Quốc công khai đầy đủ trong lễ duyệt binh năm 2019, khi các xe chở tên lửa màu xanh nhạt di chuyển qua quảng trường Thiên An Môn. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của nó không nằm ở màn phô diễn, mà ở khả năng đưa tên lửa hạt nhân xuống những tàu ngầm có thể liên tục thay đổi vị trí dưới biển.

Từ tên lửa tầm khu vực đến vũ khí xuyên lục địa

Trước JL-2, Trung Quốc có JL-1 trang bị cho tàu ngầm hạt nhân Type 092 lớp Hạ. Tên lửa này chỉ đạt tầm bắn khoảng 1.700 đến 2.500 km tùy nguồn đánh giá. Với tầm bắn hạn chế, tàu ngầm mang JL-1 phải tiến rất xa khỏi vùng biển Trung Quốc nếu muốn tấn công những mục tiêu chiến lược. Điều đó khiến con tàu dễ bị máy bay tuần tra, tàu mặt nước và tàu ngầm săn ngầm của đối phương phát hiện.

cdn-iladncp.nitrocdn.com-hqleixensysotcvgzdqpqxypwdyazutw-assets-images-optimized-wp-content-uploads-2016-08-_7302388e15a2d861661c44edbee54a43.jl-2-1024x580.jpg
Tên lửa JL-2. Ảnh: Quân đội Trung Quốc

Chiếc Type 092 duy nhất cũng không được cho là từng thực hiện một chuyến tuần tra răn đe kéo dài đúng nghĩa. Vì vậy, dù Trung Quốc đã có tên lửa hạt nhân phóng từ tàu ngầm, năng lực tác chiến thực tế vẫn rất hạn chế.

JL-2 tạo ra bước nhảy lớn hơn nhiều. Tên lửa được cho là phát triển dựa trên công nghệ của DF-31, loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa phóng từ mặt đất. Chương trình trải qua nhiều năm thử nghiệm và điều chỉnh trước khi được đánh giá là bắt đầu trực chiến vào khoảng năm 2015. Một điểm đáng chú ý của JL-2 là động cơ nhiên liệu rắn ba tầng. So với tên lửa dùng nhiên liệu lỏng, thiết kế này cho phép quả đạn được bảo quản lâu trong ống phóng và giảm thời gian chuẩn bị trước khi khai hỏa.

Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với tàu ngầm chiến lược. Con tàu phải duy trì bí mật, nhận lệnh và phóng tên lửa trong thời gian ngắn mà không cần thực hiện quá nhiều thao tác có thể làm tăng nguy cơ bị phát hiện. JL-2 vì thế không chỉ là phiên bản JL-1 có tầm bắn xa hơn. Nó kết hợp động cơ nhiên liệu rắn, đầu đạn hạt nhân và bệ phóng cơ động dưới biển, giúp Trung Quốc duy trì khả năng phản công ngay cả khi các căn cứ tên lửa trên đất liền bị tấn công.

Tầm bắn và đầu đạn vẫn là vùng mờ

Trung Quốc không công bố hồ sơ kĩ thuật đầy đủ của JL-2. Phần lớn thông số hiện nay đến từ các cơ quan quốc phòng và tổ chức nghiên cứu nước ngoài. Cơ sở dữ liệu Missile Threat của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ước tính JL-2 dài khoảng 13 m, đường kính 2 m và có khối lượng phóng gần 42 tấn.

Tầm bắn của tên lửa được đánh giá trong khoảng 7.200 đến 9.000 km. Sự chênh lệch khá lớn này có thể liên quan đến khối lượng đầu đạn, quỹ đạo bay và các thiết bị được mang theo. Một tên lửa mang đầu đạn đơn nhẹ thường có thể bay xa hơn cấu hình mang nhiều đầu đạn hoặc mồi bẫy. Vì vậy, con số hơn 7.000 km thường được dùng như mức đánh giá thận trọng, còn tầm bắn gần 9.000 km có thể phản ánh khả năng tối đa trong một số điều kiện.

7808ed50-726f-4b7c-acfb-f9373f79f8f1.png
Thông số kĩ thuật của tên lửa JL-2 của Trung Quốc. Ảnh: HV

Cấu hình đầu đạn của JL-2 cũng chưa được xác nhận rõ ràng. Một số nguồn cho rằng tên lửa chủ yếu mang một đầu đạn hạt nhân có sức công phá lớn. Những đánh giá khác lại đề cập khả năng mang nhiều đầu đạn tách độc lập, cho phép một quả tên lửa tấn công nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, bằng chứng công khai về việc Trung Quốc thường xuyên triển khai JL-2 với nhiều đầu đạn vẫn còn hạn chế. Do Bắc Kinh công bố rất ít dữ liệu, các nhà nghiên cứu chủ yếu phải dựa vào ảnh vệ tinh, tài liệu quân sự công khai và hình ảnh xuất hiện trong các cuộc duyệt binh.

Tên lửa cũng được cho là có thể mang mồi bẫy hoặc thiết bị hỗ trợ vượt qua hệ thống phòng thủ. Độ chính xác thường được ước tính ở mức vài trăm mét. Với vũ khí hạt nhân chiến lược, yêu cầu quan trọng nhất không phải đánh trúng một công trình riêng lẻ, mà là đưa đầu đạn tới đúng khu vực mục tiêu sau hành trình hàng nghìn kilômét.

Mười hai tên lửa trên tàu ngầm Type 094

JL-2 được thiết kế để hoạt động cùng tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Type 094, NATO gọi là lớp Tấn. Mỗi tàu có 12 ống phóng đặt phía sau tháp chỉ huy. Khu vực chứa tên lửa nhô cao khỏi thân tàu, tạo nên phần lưng lớn và khiến Type 094 khá dễ nhận biết trong ảnh vệ tinh.

militarnyi.com-wp-content-uploads-2026-07-_type-94-1.webp
Tàu ngầm Type 094. Ảnh: Hải quân Trung Quốc

Một số biến thể mới từng làm xuất hiện suy đoán rằng Type 094 có thể mang 16 tên lửa. Tuy nhiên, hình ảnh công khai cho thấy các tàu vẫn sử dụng 12 ống phóng. Theo các đánh giá phương Tây, Trung Quốc đang vận hành sáu tàu Type 094. Khi được trang bị đầy đủ, mỗi chiếc có thể mang 12 quả JL-2, tạo thành một bệ phóng hạt nhân có khả năng liên tục thay đổi vị trí dưới biển.

Đây là ưu thế quan trọng so với tên lửa đặt trong hầm phóng cố định. Vị trí của các căn cứ trên đất liền có thể được vệ tinh theo dõi, còn tàu ngầm đang lặn khó xác định hơn nhiều.

Dù vậy, đưa tên lửa xuống tàu ngầm mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Trung Quốc còn phải duy trì thủy thủ đoàn được huấn luyện, tổ chức tuần tra dài ngày và bảo đảm hệ thống liên lạc với con tàu đang hoạt động dưới nước.

Tàu ngầm phải nhận được mệnh lệnh trong tình huống khẩn cấp nhưng vẫn giữ được bí mật. Mọi hoạt động liên lạc đều có nguy cơ làm lộ vị trí, trong khi quyền sử dụng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc được kiểm soát tập trung ở cấp lãnh đạo cao nhất.

Lầu Năm Góc đánh giá Trung Quốc đã bắt đầu duy trì các chuyến tuần tra răn đe gần như liên tục bằng lực lượng Type 094 từ năm 2021. Điều này cho thấy JL-2 không còn chỉ là vũ khí thử nghiệm, mà đã trở thành một phần trong lực lượng hạt nhân thường trực trên biển.

Bay hơn 7.000 km vẫn bị giới hạn bởi địa lí

Tầm bắn hơn 7.000 km rất lớn, nhưng chưa đủ để JL-2 bao phủ mọi mục tiêu nếu tàu ngầm chỉ hoạt động gần bờ biển Trung Quốc. Từ vùng biển gần Trung Quốc, tên lửa có thể đặt Guam, Hawaii và một phần Alaska vào tầm bắn. Tuy nhiên, để vươn tới nhiều khu vực trên phần lục địa Mỹ, tàu Type 094 phải tiến sâu hơn ra Thái Bình Dương.

cdn-iladncp.nitrocdn.com-hqleixensysotcvgzdqpqxypwdyazutw-assets-images-optimized-wp-content-uploads-2021-03-_fa013b856107862feeac349b6eb1d40a.0-867x1024.jpg
Tên lửa JL-2 được phóng từ tàu ngầm. Ảnh: Wikimedia

Một số tính toán cho rằng tàu ngầm phải di chuyển hàng nghìn kilômét khỏi vùng biển Trung Quốc mới có thể đưa khu vực bờ Tây nước Mỹ vào tầm bắn. Muốn đe dọa các mục tiêu xa hơn ở phía đông, con tàu phải tiến gần khu vực giữa Thái Bình Dương.

Đây là điểm JL-2 thua kém những tên lửa cùng loại của Mỹ và Nga. Trident II D5 của Mỹ cùng một số tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm của Nga có tầm bắn vượt 11.000 km, cho phép tàu khai hỏa từ những vùng biển gần căn cứ hơn. JL-2 buộc Trung Quốc phải lựa chọn giữa hai phương án. Tàu có thể ở gần vùng biển được hải quân và không quân bảo vệ nhưng chỉ bao phủ số mục tiêu hạn chế, hoặc tiến xa hơn để mở rộng tầm tấn công nhưng đối mặt nguy cơ bị phát hiện.

Khả năng sống sót của Type 094 cũng là một hạn chế. Tàu được đánh giá tiên tiến hơn nhiều so với Type 092, nhưng vẫn gây tiếng ồn lớn hơn đáng kể so với các tàu ngầm chiến lược hiện đại nhất của Mỹ và Nga. Với tàu ngầm hạt nhân, tiếng ồn có thể quyết định khả năng sống còn. Một chiếc Type 094 mang 12 quả JL-2 là mối đe dọa lớn khi chưa bị phát hiện, nhưng sẽ trở thành mục tiêu ưu tiên nếu bị tàu ngầm hoặc máy bay săn ngầm đối phương bám theo.

JL-3 được phát triển để khắc phục phần nào hạn chế này. Với tầm bắn được ước tính khoảng 10.000 km hoặc hơn, tên lửa thế hệ mới cho phép tàu ngầm Trung Quốc vươn tới nhiều mục tiêu hơn mà không cần tiến quá sâu ra Thái Bình Dương. Một số đánh giá cho rằng hải quân Trung Quốc đã bắt đầu thay JL-2 bằng JL-3 trên từng tàu Type 094 khi chúng trở về căn cứ bảo dưỡng. Trong thời gian chuyển tiếp, JL-2 vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong lực lượng hạt nhân trên biển của Trung Quốc.

Hoàng Vũ