Nhịp đập công nghệ

Chiếc áo Việt đi qua ‘cửa ải xanh’ bằng công nghệ nào?

Nguyễn Tuyết 28/07/2026 14:11

Từ sợi tái chế, kiểm soát hóa chất đến truy xuất dữ liệu, công nghệ đang thay đổi cách doanh nghiệp Việt làm ra một chiếc áo cho thị trường xanh.

Một chiếc áo được gọi là “xanh” không chỉ vì sử dụng vải tái chế hay gắn nhãn thân thiện môi trường. Với ngành dệt may Việt Nam, yêu cầu bền vững đang đi sâu vào từng mắt xích, từ nguồn sợi, hóa chất, nước, năng lượng đến khả năng truy xuất sản phẩm sau khi rời nhà máy.

Sự thay đổi này đến từ cả thị trường lẫn chính sách. Các nhãn hàng quốc tế ngày càng yêu cầu nhà cung ứng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, kiểm soát hóa chất và tác động môi trường. Điều đó buộc doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải chuyển từ cách làm “đạt yêu cầu đầu ra” sang quản lý dữ liệu xuyên suốt quá trình sản xuất.

721387159_1691092139192546_1471946875749434587_n.jpg
Sinh viên Khoa Thiết kế Sáng tạo, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội trong giờ học pha màu trong thời trang.

Từ sợi vải đến hóa chất: “xanh” bắt đầu ngay trong nhà máy

Nguyên liệu là điểm đầu tiên quyết định mức độ bền vững của một sản phẩm may mặc. Theo Materials Market Report 2025 của Textile Exchange, sản lượng sợi toàn cầu tăng từ 125 triệu tấn năm 2023 lên 132 triệu tấn năm 2024. Polyester tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn nhất, khoảng 59% tổng sản lượng sợi toàn cầu; trong đó 88% vẫn có nguồn gốc hóa thạch.

Sợi tái chế đang tăng về sản lượng nhưng chưa chiếm tỉ trọng lớn. Năm 2024, nhóm này chỉ chiếm khoảng 7,6% thị trường sợi thế giới. Lượng sợi được tạo ra từ chất thải dệt may trước và sau tiêu dùng vẫn dưới 1% tổng thị trường sợi toàn cầu.

Riêng polyester tái chế đạt khoảng 9,3 triệu tấn năm 2024, tăng từ 8,9 triệu tấn năm trước. Tuy nhiên, thị phần giảm từ 12,5% xuống khoảng 12% do polyester nguyên sinh tăng nhanh hơn. Khoảng 98% polyester tái chế hiện vẫn được làm từ chai nhựa. Những con số này cho thấy một chiếc áo gắn nhãn “recycled polyester” chưa đồng nghĩa với việc ngành thời trang đã hình thành vòng tuần hoàn từ quần áo cũ thành quần áo mới.

Bài toán càng khó với vải pha. Các vật liệu kết hợp cotton, polyester hoặc elastane khó tái chế sau sử dụng vì phải tách nhiều loại sợi có đặc tính khác nhau. Công nghệ tái chế hóa học đang được phát triển để xử lý một số loại vật liệu pha, nhưng khả năng mở rộng quy mô vẫn là thách thức.

thoi-trang1.jpg
Tác phẩm cảnh báo sự suy kiệt của môi trường được tái chế từ chất liệu jean cũ - sản phẩm của Lê Hương Trà - sinh viên Khoa Thiết kế sáng tạo, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội.

Tại Việt Nam, một số nhà thiết kế đã chọn cách tiếp cận bền vững ngay từ nguyên liệu. NTK Vũ Thảo, người sáng lập Kilomet109, làm việc với các nhóm thợ thủ công tại nhiều địa phương để trồng nguyên liệu, kéo sợi, dệt, in và nhuộm vải tự nhiên trước khi hoàn thiện sản phẩm tại Hà Nội. Chuỗi sản xuất ưu tiên vật liệu tại chỗ và thuốc nhuộm có nguồn gốc tự nhiên.

Theo NTK Vũ Thảo, giá trị của một sản phẩm không chỉ nằm ở thiết kế mà còn gắn với văn hóa của những người tạo ra sản phẩm và các vấn đề môi trường liên quan đến tương lai. Cách làm ở quy mô thủ công khác với sản xuất công nghiệp, nhưng cùng đặt ra một yêu cầu: muốn nói một sản phẩm bền vững, doanh nghiệp phải biết nguyên liệu đến từ đâu và đã trải qua những công đoạn nào.

Sau nguyên liệu là hóa chất. ZDHC, tổ chức hoạt động về quản lí hóa chất bền vững trong chuỗi dệt may, xây dựng danh mục Manufacturing Restricted Substances List (MRSL) để kiểm soát các hóa chất bị hạn chế sử dụng có chủ đích trong quá trình sản xuất. Cách tiếp cận này đưa việc kiểm soát ô nhiễm về đầu nguồn, thay vì chỉ xử lí khi nước thải đã phát sinh.

ZDHC Wastewater Guidelines phiên bản 2.2 cũng đưa ra các thông số, giới hạn và phương pháp thử đối với nước thải và bùn thải. Vì vậy, một nhà máy dệt nhuộm “xanh” không thể chỉ được đánh giá bằng hệ thống xử lí cuối đường ống. Cần nhìn cả hóa chất đầu vào, mức sử dụng nước, khả năng kiểm soát nước thải và độ tin cậy của dữ liệu.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, bà Phí Huyền, giảng viên Khoa Thiết kế Sáng tạo, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội, cho rằng các chính sách như thuế carbon hay trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) có thể làm giảm lợi thế giá rẻ của thời trang nhanh, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào vật liệu, công nghệ và quy trình sản xuất xanh hơn.

Theo bà Huyền, yếu tố giá và truyền thông cũng tác động trực tiếp đến lựa chọn của người mua. “Nếu các sản phẩm bền vững có mức giá dễ tiếp cận hơn và được truyền thông nhiều hơn về lợi ích cũng như chất lượng, tôi nghĩ sẽ có nhiều người sẵn sàng lựa chọn hơn”, bà Huyền nói.

Bà Huyền cho rằng thời trang xanh chỉ thực sự thuyết phục khi đi cùng chất lượng, độ bền và trải nghiệm sử dụng tốt. Bền vững vì vậy không nên được xem như một thuộc tính trang trí thêm cho sản phẩm, mà phải trở thành một phần của cách thiết kế, sản xuất và sử dụng quần áo.

xanh.jpg
Bà Phí Huyền, giảng viên Khoa Thiết kế Sáng tạo, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội trong một sự kiện về thời trang của trường.

Từ máy cắt đến dữ liệu: Chiếc áo Việt phải chứng minh được mình “xanh”

Ở công đoạn may, công nghệ số đang giúp doanh nghiệp kiểm soát nguyên liệu tốt hơn. Phần mềm thiết kế và giác sơ đồ có thể sắp xếp các chi tiết trên khổ vải để hạn chế phần nguyên liệu bị bỏ đi khi cắt. Các hệ thống quản lí sản xuất số hóa cũng giúp theo dõi nguyên liệu và chỉ số vận hành ở từng công đoạn.

Giá trị của số hóa không chỉ nằm ở năng suất. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể tạo dữ liệu để truy xuất quá trình sản xuất. Đây là yêu cầu ngày càng đáng chú ý với các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Một ví dụ là Digital Product Passport (DPP), hay hộ chiếu sản phẩm số, được đặt trong khuôn khổ Quy định Ecodesign for Sustainable Products Regulation (ESPR) của Liên minh châu Âu. DPP hướng tới việc lưu trữ, cung cấp dữ liệu về sản phẩm theo từng nhóm hàng cụ thể. Tuy nhiên, hiện không có quy định chung buộc mọi sản phẩm đều phải có DPP.

Với dệt may, lộ trình của Ủy ban châu Âu hiện dự kiến văn bản ủy quyền theo ESPR cho nhóm sản phẩm này được thông qua vào quý IV năm 2027. Hệ thống đăng ký DPP của EU đã đi vào hoạt động từ ngày 20/7/2026, nhưng điều đó không đồng nghĩa mọi chiếc áo xuất khẩu vào EU đã bắt buộc phải có hộ chiếu sản phẩm số.

Điều đáng quan tâm với doanh nghiệp Việt Nam không phải là thêm một mã QR lên chiếc áo, mà là khả năng tạo dữ liệu đứng sau mã nhận diện đó. Sản phẩm làm từ vật liệu gì, thành phần ra sao, được sản xuất ở đâu, sử dụng hóa chất nào và có thể sửa chữa, tái sử dụng hay tái chế thế nào là những thông tin ngày càng có giá trị trong chuỗi cung ứng.

Áp lực này càng rõ khi nhìn vào lượng chất thải dệt may. Ủy ban châu Âu cho biết khoảng 5 triệu tấn quần áo bị thải bỏ mỗi năm tại EU, tương đương khoảng 12 kg mỗi người. Chỉ khoảng 1% vật liệu trong quần áo được tái chế trở lại thành quần áo mới. Ở quy mô toàn cầu, Textile Exchange cũng ghi nhận dưới 1% thị trường sợi năm 2024 đến từ việc tái chế chất thải dệt may trước và sau tiêu dùng.

Những con số này cho thấy thời trang xanh không thể được đo bằng một thuộc tính riêng lẻ. Một chiếc áo dùng polyester tái chế nhưng khó tái chế tiếp chưa giải quyết toàn bộ bài toán. Một nhà máy có hệ thống xử lí nước thải nhưng thiếu kiểm soát hóa chất đầu vào cũng chưa phản ánh đầy đủ sản xuất sạch. Một mã QR càng không có ý nghĩa nếu phía sau không có dữ liệu đáng tin cậy.

Với ngành dệt may Việt Nam, công nghệ xanh vì vậy không chỉ là câu chuyện mua thêm máy móc. Đó là quá trình thay đổi từ vật liệu, thiết kế, nhuộm, cắt may đến cách quản lí và công bố dữ liệu sản phẩm.

Các chính sách như thuế carbon hay trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất có thể tiếp tục tạo sức ép lên mô hình thời trang giá rẻ, đồng thời mở thêm dư địa cho vật liệu và quy trình ít tác động môi trường. Nhưng để sản phẩm xanh đi vào đời sống, yếu tố giá, chất lượng và khả năng tiếp cận vẫn phải được giải quyết.

Khi tiêu chí bền vững trở thành một phần bình thường của thiết kế và sản xuất, thay vì chỉ là thông điệp quảng bá, chiếc áo Việt mới có thêm cơ hội đứng vững trong những chuỗi cung ứng ngày càng đòi hỏi minh bạch và trách nhiệm môi trường.

Nguyễn Tuyết