Cơ hội & Bẫy

Tài sản số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết bài toán của nền kinh tế

Bùi Tú 12/08/2026 10:15

Giá trị kinh tế thực của tài sản số không nằm ở việc một đồng tiền mã hóa tăng giá bao nhiêu, mà ở khả năng giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và mở rộng khả năng luân chuyển tài sản.

Với Việt Nam, những lĩnh vực như logistics, thương mại, tài chính và số hóa tài sản thực có thể trở thành động lực tạo ra giá trị lớn nhất trong thập niên tới.

tài sản số
Tài sản số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết bài toán của nền kinh tế

Thương mại và logistics có thể mang lại giá trị lớn hơn nhiều so với giao dịch tiền mã hóa

Theo TS. Nguyễn Nhật Minh (giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam) trao đổi riêng với Một Thế Giới, khi đánh giá tác động của tài sản số đối với nền kinh tế, điều quan trọng không phải là giá trị đầu tư hay mức tăng giá của các loại tài sản mã hóa, mà là khả năng cải thiện hiệu quả vận hành của nền kinh tế thực.

“Giá trị kinh tế thực của tài sản số không nằm ở việc một đồng tiền tăng giá bao nhiêu, mà ở khả năng giảm chi phí giao dịch, giảm sự phân mảnh thông tin, tăng khả năng xác minh và làm cho những tài sản trước đây khó giao dịch trở nên dễ luân chuyển hơn”, ông nhận định.

Theo giảng viên trường RMIT, xu hướng này không chỉ được quan tâm bởi khu vực tư nhân mà còn được nhiều tổ chức tài chính quốc tế nghiên cứu. Ông dẫn chứng Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đã đánh giá số hóa tài sản là một hướng đi có khả năng tạo ra những thay đổi đáng kể đối với thanh toán xuyên biên giới và thị trường tài chính toàn cầu.

Đối với Việt Nam, lĩnh vực được TS. Nguyễn Nhật Minh đánh giá có tiềm năng ứng dụng mạnh nhất lại không phải đầu tư tài chính hay giao dịch tài sản mã hóa, mà là thương mại và logistics.

“Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế. Nếu có thể kết nối dữ liệu về nguồn gốc hàng hóa, chứng từ thương mại, thanh toán và tài trợ thương mại trên một hạ tầng đáng tin cậy, lợi ích kinh tế có thể lớn hơn rất nhiều so với việc chỉ phát triển giao dịch tiền mã hóa”, ông phân tích.

Thực tế, hoạt động xuất nhập khẩu hiện vẫn phụ thuộc vào nhiều loại chứng từ, quy trình xác minh và đối chiếu dữ liệu giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng. Việc số hóa và kết nối các dữ liệu này trên một hạ tầng có khả năng xác thực đáng tin cậy có thể giúp doanh nghiệp giảm thời gian xử lí hồ sơ, giảm chi phí vận hành và hạn chế rủi ro phát sinh từ sai lệch thông tin. Đây cũng là lĩnh vực phù hợp với đặc điểm của Việt Nam khi nền kinh tế ngày càng gắn kết với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Từ thanh toán xuyên biên giới đến phát triển thị trường tài sản số

Bên cạnh logistics và thương mại, TS. Nguyễn Nhật Minh cho rằng tài chính là lĩnh vực tiếp theo có khả năng hưởng lợi mạnh mẽ từ quá trình phát triển tài sản số. “Thứ hai là tài chính và thanh toán xuyên biên giới”, ông nhấn mạnh.

Đây là nhu cầu ngày càng lớn trong bối cảnh dòng vốn, thương mại điện tử và các hoạt động kinh doanh quốc tế phát triển nhanh. Những giải pháp dựa trên tài sản số và công nghệ sổ cái phân tán có thể góp phần rút ngắn thời gian xử lí giao dịch, giảm số lượng khâu trung gian và tăng khả năng đối soát giữa các tổ chức tham gia.

Một hướng đi khác được nhiều trung tâm tài chính lớn trên thế giới theo đuổi là số hóa các loại tài sản thực và tài sản tài chính. “Thứ ba là số hóa các tài sản thực và tài sản tài chính, qua đó có thể mở rộng khả năng huy động và luân chuyển vốn. Đây cũng là hướng đang được Singapore, Hồng Kông (TQ) và nhiều trung tâm tài chính lớn thử nghiệm”, TS. Nguyễn Nhật Minh đánh giá.

Theo đó, những tài sản vốn có tính thanh khoản thấp có thể được số hóa và giao dịch thuận tiện hơn trong tương lai. Điều này mở ra khả năng tiếp cận vốn linh hoạt hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tạo thêm lựa chọn cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, giảng viên trường RMIT cũng lưu ý rằng không phải lĩnh vực nào cũng có thể nhanh chóng tận dụng lợi ích từ tài sản số. Bất động sản là một ví dụ điển hình. “Riêng bất động sản, tiềm năng lớn nhưng không nên quá kì vọng trong ngắn hạn”, ông nhận định.

Theo TS. Nguyễn Nhật Minh, một trong những ngộ nhận phổ biến hiện nay là cho rằng chỉ cần đưa bất động sản lên nền tảng số hoặc token hóa tài sản là có thể giải quyết các vấn đề của thị trường.

“Số hóa một tài sản không tự động giải quyết được vấn đề pháp lí về quyền sở hữu tài sản đó. Nếu dữ liệu gốc và quyền tài sản chưa rõ ràng thì công nghệ chuỗi khối cũng không thể tự tạo ra sự minh bạch”, ông phân tích.

Nhận định này cho thấy công nghệ chỉ là một phần của bài toán. Để tài sản số tạo ra giá trị thực, điều kiện tiên quyết vẫn là dữ liệu đáng tin cậy, quyền tài sản được xác lập rõ ràng và một khuôn khổ pháp lí phù hợp.

Trong 5-10 năm tới, cơ hội lớn nhất của Việt Nam có thể không nằm ở việc hình thành một thị trường đầu cơ tài sản số quy mô lớn, mà ở khả năng ứng dụng công nghệ vào những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, thương mại và luân chuyển vốn của nền kinh tế. Khi đó, giá trị của tài sản số sẽ được đo bằng hiệu quả kinh tế tạo ra, thay vì chỉ bằng biến động giá trên thị trường.

Bùi Tú