GS.VS Trần Đại NghĩaKỳ 3: 'Điệp vụ' 30.000 trang tài liệu kỹ thuật quân sự
Trước khi trở thành "ông vua" vũ khí Việt Nam, kỹ sư Phạm Quang Lễ đã thực hiện một cuộc di dân tri thức vĩ đại, mang theo 30.000 trang tài liệu kỹ thuật quân sự về nước.

1
1 năm "nằm gai nếm mật" tại thủ phủ khoa học phương Tây
Giai đoạn 1935 - 1946 là hành trình 11 năm đằng đẵng của Phạm Quang Lễ (tên khai sinh của Giáo sư Trần Đại Nghĩa) tại Pháp, Đức và các nước châu Âu. Đây là thời kì mà sự nghiệp của ông không chỉ đơn thuần là việc học tập tại các trường đại học danh tiếng như Đại học Bách khoa Paris (École Polytechnique), Đại học Cầu đường (École des Ponts et Chaussées) hay Đại học Hàng không (École Aéronautique), mà còn là một cuộc "đột nhập" trí tuệ có hệ thống.

Khác với những du học sinh thời bấy giờ vốn thường gắn liền với hình ảnh công tử bột, tận hưởng cuộc sống xa hoa, Phạm Quang Lễ lại chọn một cuộc sống khép kín, khổ hạnh và đầy tính toán. Ông hiểu rằng, để có thể chế tạo được vũ khí cho dân tộc, ông phải nắm vững từ lí thuyết hàn lâm đến quy trình sản xuất thực tế tại các xưởng quân giới và nhà máy chế tạo máy bay lớn.
Việc tiếp cận thông tin thời điểm đó là một "trận chiến" cân não. Tại Pháp, các tài liệu về công nghệ quân sự là những vùng cấm tuyệt đối đối với người bản xứ Đông Dương. Tuy nhiên, bằng sự khôn khéo đến mức kinh ngạc, ông đã tiếp cận được những tri thức tối mật thông qua các "kênh" không ngờ tới. Những giai thoại ít được công bố rộng rãi trên truyền thông cho thấy, Phạm Quang Lễ không bao giờ hỏi trực tiếp về quân sự. Thay vào đó, ông tiếp cận các giáo sư, thủ thư bằng sự tò mò của một người yêu khoa học dân dụng. Ông thường xuyên có mặt tại các thư viện chuyên ngành kỹ thuật, nhưng không bao giờ để lộ ý đồ nghiên cứu vũ khí.
Đó là những ngày tháng mà mỗi trang giấy tôi chép lại đều có thể phải trả giá bằng cả mạng sống nếu bị mật thám tống giam vì tội gián điệp.
Giáo sư Trần Đại Nghĩa
Ông thường trao đổi với các thủ thư về các vấn đề kỹ thuật dân dụng, như việc làm thế nào để xây dựng các hầm chui qua núi, hoặc cách tính toán độ bền của ống thép trong công nghiệp lọc dầu. Trong những cuộc chuyện trò đó, ông khéo léo lồng ghép các câu hỏi về vật liệu, về độ chịu áp suất của kim loại.
Với những giáo sư đầu ngành, ông thường đóng vai một sinh viên ưu tú đang gặp khó khăn trong một đề tài nghiên cứu về "cơ học chất lưu" hay "cơ học vật rắn". Những giáo sư vốn quý mến tài năng của chàng sinh viên Việt Nam cần cù đã không ngần ngại chỉ cho ông cách tìm đến những tài liệu quý, vốn được xếp trong kho lưu trữ đặc biệt. Sự khéo léo đến tình cờ ấy chính là chìa khóa giúp ông tiếp cận được các sơ đồ chế tạo pít-tông, quy trình pha chế hóa chất mà người Pháp vẫn đang sử dụng trong các nhà máy vũ khí. Ông chép tay lại các thông số, phác thảo các bản vẽ ngay tại thư viện, sau đó về phòng trọ đối chiếu và hệ thống hóa lại. Quá trình này diễn ra ròng rã hơn một thập kỉ, tạo nên khối tài liệu khổng lồ mà sau này chính Trần Đại Nghĩa đã tự tay mang về nước.
Khi khoa học là tấm khiên
Sự thành công của Phạm Quang Lễ nằm ở chỗ ông dùng chính những tấm bằng kỹ sư danh giá làm vỏ bọc. Khi mật thám Pháp theo dõi và đặt nghi vấn về những chuyến viếng thăm thường xuyên của ông tại các thư viện kỹ thuật quân sự, ông luôn có câu trả lời hoàn hảo.
Tôi là sinh viên trường Quốc gia Cầu cống. Đông Dương là một xứ hiểm trở, nhiều núi non. Mở một con đường xuyên rừng đòi hỏi phải bạt đi từng mảng núi, ấy là chưa kể còn phải đục núi để xây đường hầm. Vì thế tôi rất cần có những hiểu biết về thuốc nổ!
Phạm Quang Lễ
Cách giải thích này không chỉ hợp lí về mặt lí thuyết mà còn thể hiện tư duy che đậy cáo già của ông. Mật thám Pháp, dù nghi ngờ đến mấy, cũng không thể kết tội một sinh viên đang nghiên cứu kỹ thuật xây dựng dân dụng để giúp ích cho quê hương. Chính vì thế, ông đã âm thầm gom góp được hàng chục nghìn trang tài liệu về công nghệ chế tạo vũ khí phản lực, thuốc nổ TNT, công nghệ đúc pháo...
Những tài liệu này sau này đã trở thành "cuốn bách khoa toàn thư" quý giá cho Cục Quân giới Việt Nam. Giai thoại về khối tài liệu 30.000 trang này ít được nhắc đến trên các báo chí chính thống như một chiến công tình báo, nhưng đối với giới chuyên gia lịch sử, đây là hành động mang tầm vóc chiến lược. Ông không chỉ mang về giấy mực, mà ông mang về cả một nền công nghiệp quốc phòng non trẻ.

Bên cạnh đó, việc thực tập tại các nhà máy quân giới lớn ở châu Âu là một giai đoạn "nằm vùng" thực thụ. Phạm Quang Lễ không chỉ quan sát, ông ghi nhớ quy trình vận hành của các loại máy tiện, máy phay, cách điều chỉnh độ chính xác của nòng súng. Ông hiểu rằng, trong điều kiện chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta không có các máy móc hiện đại, vì vậy, ông đã đặc biệt chú ý đến các phương pháp sản xuất "thủ công tinh xảo" mà người Pháp từng áp dụng trong thời kì đầu công nghiệp hóa. Ông ghi chú lại tỉ mỉ những mẹo vặt, những kinh nghiệm thực chiến trong xưởng để có thể áp dụng cho các cơ sở quân giới trong rừng rậm Việt Bắc. Đây là thông tin mang tính chuyên môn sâu, thường ít được truyền thông nhấn mạnh, nhưng chính là chìa khóa giúp ông chế tạo súng Bazooka sau này khi trong tay chỉ có những chiếc máy tiện cũ kỹ.
Hành trình trở về và sứ mệnh của một thiên tài
Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Phạm Quang Lễ đã dứt khoát từ bỏ mức lương cao ngất ngưởng tại các nhà máy hàng không Pháp để đi theo tiếng gọi của Bác. Trong hành lí trở về nước, ngoài những vật dụng cá nhân, ông đã tìm cách chia nhỏ khối tài liệu 30.000 trang kỹ thuật để mang về an toàn. Việc đưa khối tài liệu này qua được sự kiểm soát gắt gao của an ninh Pháp tại cảng là một kì tích. Ông đã nhờ các trí thức yêu nước tại Pháp cất giấu giúp, chia nhỏ vào các tập bản vẽ cầu đường, các giáo trình toán học cao cấp.
.jpg)
Khi lên tàu Dumont D'Urville, toàn bộ tư duy kỹ thuật của châu Âu đã nằm trong tay của người kỹ sư trẻ. Ông đã đối mặt với những giây phút căng thẳng tột độ khi các nhân viên an ninh thực dân lục soát kĩ lưỡng. Nhưng với phong thái tự tin của một kỹ sư đã quá quen thuộc với giới thượng lưu Pháp, cùng sự hỗ trợ khéo léo từ phía đoàn công tác của Bác Hồ, toàn bộ khối tài liệu đã được chuyển an toàn về đến Việt Nam.
Không có 30.000 trang tài liệu đó, chúng ta sẽ mất hàng chục năm để mò mẫm trong bóng tối. Đó chính là chìa khóa để chúng ta rút ngắn khoảng cách công nghệ với kẻ thù.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trở về chiến khu, những tài liệu này không chỉ giúp ông chế tạo súng Bazooka hay ĐKZ, mà còn giúp ông đào tạo được đội ngũ cán bộ quân giới Việt Nam. Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường bằng chính những tri thức ông đã tích lũy được trong 11 năm tại châu Âu.
Quá trình "chuyển giao trí tuệ" của ông tại chiến khu Việt Bắc là một chương khó quên. Ông không chỉ giữ tài liệu cho riêng mình, mà ông tổ chức các lớp học dã chiến, nơi ông trực tiếp dịch lại các tài liệu từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, giải thích những khái niệm vật lí phức tạp cho những người thợ cơ khí vốn chỉ quen với đục đẽo. Sự tận tâm này chính là điểm kết nối giữa một bộ óc thiên tài với những bàn tay cần cù của công nhân Việt Nam. Ông đã biến 30.000 trang tài liệu kỹ thuật kia thành những khẩu súng thực tế, thành những viên đạn xuyên thấu xe tăng địch.
.jpg)
.jpg)
Súng Bazooka và súng SKZ do Giáo sư Trần Đại Nghĩa và các cộng sự cải tiến, chế tạo. Ảnh: NP
Hành trình 11 năm tại phương Tây không chỉ là hành trình của một nhà khoa học đơn thuần, mà là hành trình của một "điệp viên trí tuệ" mang trong mình sứ mệnh cứu nước vĩ đại. Tầm vóc của ông không chỉ nằm ở các tấm bằng hay các phát minh, mà nằm ở sự chuẩn bị kĩ lưỡng, mưu trí và tinh thần trách nhiệm với vận mệnh dân tộc trong những giờ phút nguy nan nhất của lịch sử nước nhà. Câu chuyện về khối tài liệu 30.000 trang vẫn luôn là một minh chứng đắt giá về sự cáo già trong tư duy, sự kiên định trong lí tưởng và trên hết là tình yêu nước nồng nàn của một bậc vĩ nhân. Những chi tiết về phương thức tiếp cận và ngụy trang tài liệu vẫn còn đó, chờ đợi được khai thác sâu hơn như một bài học về lòng quả cảm và sự thông tuệ của thế hệ trí thức yêu nước đầu thế kỉ 20.


