Tài sản mã hóa

Đâu là bài toán cần giải để tạo đường phát triển stablecoin tại Việt Nam?

Bùi Tú 20/08/2026 17:43

Stablecoin tại Việt Nam có rất nhiều dư địa phát triển mạnh; nhưng trước hết cần phải khơi thông nguồn lực từ việc làm rõ các quy định.

Khi được hỏi đâu là rào cản lớn nhất khiến stablecoin chưa thể phát triển mạnh tại Việt Nam, giữa công nghệ, hành lang pháp lí, hệ sinh thái thanh toán và nhận thức người dùng, ông Nguyễn Khắc Việt Bách (Giám đốc điều hành Quỹ BlockBase Private,) cho rằng bốn yếu tố này không có vai trò ngang nhau. “Tôi xin xếp hạng luôn, vì bốn yếu tố này không ngang nhau chút nào”, ông nói.

Người dùng không phải điểm nghẽn của stablecoin tại Việt Nam

Theo ông Bách, nhận thức người dùng không nên được xem là trở ngại đối với stablecoin tại Việt Nam. “Nhận thức người dùng không phải rào cản và tôi nghĩ nên gạch tên nó khỏi danh sách”, ông nhận định.

Lập luận này xuất phát từ thực tế Việt Nam đã có một cộng đồng sử dụng tài sản mã hóa khá lớn. Theo ông Bách, Việt Nam nhiều năm liền nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về tỉ lệ người sở hữu và giao dịch tài sản mã hóa, với quy mô giao dịch được ông ước tính vượt 100 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng một phần tư GDP.

“Người Việt không thiếu hiểu biết về stablecoin, họ đang dùng nó hàng ngày”, ông Bách nói. Như vậy, bài toán của stablecoin tại Việt Nam không nằm ở việc phải thuyết phục người dân hiểu một công cụ tài chính mới. Người dùng đã tiếp xúc với stablecoin thông qua hoạt động giao dịch, chuyển giá trị hoặc tham gia các hệ sinh thái tài sản mã hóa.

Điều còn thiếu là một khuôn khổ cho phép stablecoin mở rộng từ công cụ được sử dụng trong hệ sinh thái tài sản mã hóa sang một phương tiện có thể phục vụ các hoạt động thanh toán hợp pháp trong nền kinh tế. Đây cũng là lí do ông Bách xếp pháp lí ở vị trí số một.

Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã đưa tài sản mã hóa vào khuôn khổ pháp luật, trong khi Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, ban hành ngày 9/9/2025, mở cơ chế thí điểm thị trường tài sản mã hóa trong thời hạn 5 năm.

Tuy nhiên, theo phân tích của ông Bách, những quy định này chủ yếu tiếp cận tài sản mã hóa dưới góc độ tài sản đầu tư, thay vì mở đường cho stablecoin thực hiện chức năng thanh toán. “VND vẫn là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất”, ông nhấn mạnh.

Vì thế, theo ông, việc cho phép người dùng chuyển giá trị trực tiếp stablecoin vẫn chưa có một “cửa vào” rõ ràng về mặt pháp lí. Vấn đề không chỉ chạm tới quản lí tài sản mã hóa mà còn liên quan đồng thời tới thanh toán và quản lí ngoại hối.

Nghị định 284/2026/NĐ-CP, được ban hành ngày 16/7/2026 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, tiếp tục bổ sung chế tài đối với thị trường tài sản mã hóa. Theo quy định được công bố, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ được Bộ Tài chính cấp phép có thể bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng.

Trong tình hình đó, việc mở rộng stablecoin sang thanh toán đại trà sẽ không còn chỉ là bài toán phát triển một sản phẩm công nghệ, mà đòi hỏi xác định rõ stablecoin được phép hoạt động ở đâu, với tư cách gì và chịu sự quản lí của cơ chế nào.

Bài toán sâu hơn là chủ quyền tiền tệ

Ông Nguyễn Khắc Việt Bách, Giám đốc Điều hành Quỹ BlockBase Private
Ông Nguyễn Khắc Việt Bách, Giám đốc Điều hành Quỹ BlockBase Private

Theo ông Bách, bên dưới lớp vấn đề pháp lí còn tồn tại một rào cản sâu hơn mà ít được nhắc tới: Chủ quyền tiền tệ. “Rào cản số hai sâu hơn và ít được nói tới, đó là chủ quyền tiền tệ”, ông nhận định.

Điểm đáng chú ý nằm ở cấu trúc của thị trường stablecoin hiện nay. “Gần như toàn bộ stablecoin đang lưu hành neo theo USD”, ông Bách cho biết. Điều đó khiến stablecoin không chỉ đơn giản là một công cụ kĩ thuật giúp chuyển tiền nhanh hơn, mà còn có thể trở thành một dạng giá trị mã hóa gắn với ngoại tệ.

Theo ông, nếu người dân có thể “giữ và chuyển USD tổng hợp ngay trên điện thoại”, Việt Nam có thể phải đối mặt với nguy cơ “đô-la hóa mã hóa”. Khi đó, stablecoin neo USD có khả năng tạo thêm áp lực lên tỉ giá và ảnh hưởng tới hiệu lực của chính sách tiền tệ.

Đây là điểm khiến bài toán quản lí stablecoin khác đáng kể so với việc xây dựng một nền tảng thanh toán mới. Một ứng dụng thanh toán thông thường vẫn vận hành trong khuôn khổ đồng tiền pháp định và hệ thống tài chính trong nước, trong khi stablecoin neo ngoại tệ có thể tạo ra một lớp tài sản mã hóa mang tính quốc tế ngay trên thiết bị của người dùng.

Ông Bách cũng cho rằng Việt Nam còn phải tính tới yêu cầu phòng, chống rửa tiền và những cam kết liên quan tới FATF. “Với một nền kinh tế còn đang trong danh sách xám của FATF và cần chứng minh năng lực phòng chống rửa tiền, đây là cân nhắc rất nặng”, ông nói, đồng thời cho rằng sự thận trọng của cơ quan quản lí ở điểm này là hợp lí.

Nhìn từ góc độ đó, công nghệ lại không phải nút thắt chính. Hạ tầng blockchain, ví điện tử, hệ thống định danh hay các công nghệ hỗ trợ thanh toán có thể được phát triển tương đối nhanh khi mô hình pháp lí được xác định rõ.

“Công nghệ và hạ tầng chấp nhận thanh toán xếp cuối. Chúng có thể xử lí được trong vòng vài quý một khi hai vấn đề trên được giải”, ông Bách nhận định.

Điều này cho thấy để stablecoin phát triển tại Việt Nam, câu hỏi quan trọng nhất không phải là “có đủ công nghệ hay chưa”, mà là “stablecoin được phép làm gì”. Khi chức năng, phạm vi sử dụng và cơ chế kiểm soát được xác lập, doanh nghiệp mới có thể đầu tư hạ tầng, tích hợp thanh toán và xây dựng sản phẩm cho người dùng trên quy mô lớn.

Vì vậy, theo cách xếp hạng của ông Nguyễn Khắc Việt Bách, stablecoin tại Việt Nam đang đứng trước một nút thắt mang tính thể chế nhiều hơn công nghệ. Người dùng đã có, nhu cầu đã hình thành và hạ tầng có thể được nâng cấp. Phần khó nhất vẫn là tìm được một mô hình vừa cho phép stablecoin phát huy hiệu quả của công nghệ mới, vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống thanh toán, quản lí ngoại hối và chủ quyền tiền tệ.

Bùi Tú