Thời sự

TP.HCM và bài toán kiến tạo siêu đô thị đa cực 100 năm

Hoàng Bắc 23/08/2026 16:42

TP.HCM đang hướng tới cấu trúc đa cực với 5 cực động lực. Tầm nhìn 100 năm vì thế không chỉ là câu chuyện mở rộng không gian, mà là cuộc tái cấu trúc cách thành phố phát triển và vận hành.

5 cực động lực và cuộc tái cấu trúc không gian

Quy hoạch tổng thể TP.HCM tầm nhìn 100 năm đang đặt ra một thay đổi lớn trong tư duy phát triển. Thành phố không còn được nhìn như một lõi đô thị mở rộng dần ra vùng ven, mà hướng tới một siêu đô thị đa cực, gồm 5 cực động lực, 5 hệ liên kết chiến lược và 10 vùng phát triển.

Khu đô thị Thủ Thiêm là khu đô thị mới trọng điểm của TP.HCM, nằm trên bán đảo Thủ Thiêm, ven bờ Đông sông Sài Gòn được đầu tư theo phương thức PPP, hợp đồng BT. Ảnh: KĐTTT
Khu đô thị Thủ Thiêm là khu đô thị mới trọng điểm của TP.HCM, nằm trên bán đảo Thủ Thiêm, ven bờ Đông sông Sài Gòn được đầu tư theo phương thức PPP, hợp đồng BT. Ảnh: KĐTTT.

Trong cấu trúc đó, cực lõi trung tâm quốc tế gồm khu vực lõi TP.HCM, Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Thiêm và hai bờ sông Sài Gòn. Đây là nơi tập trung các chức năng quản trị, tài chính quốc tế, dịch vụ cao cấp, kinh tế tri thức và sáng tạo.

Phía Đông hình thành cực đổi mới sáng tạo, kết nối Thủ Đức, Thuận An, Dĩ An với sân bay Long Thành. AI, bán dẫn, R&D, đại học, startup, công nghệ cao và kinh tế số được kỳ vọng tạo nên một không gian tăng trưởng mới.

Phía Bắc là cực công nghiệp - logistics, với Bình Dương, Thủ Dầu Một, Bến Cát, Bàu Bàng. Không gian này hướng tới công nghiệp tiên tiến, công nghệ cao, logistics thông minh và các trung tâm phân phối quy mô vùng.

Phía Nam hình thành cực cảng biển - thương mại tự do - năng lượng, kết nối Cần Giờ với Cái Mép - Thị Vải, Phú Mỹ và Long Sơn. Đây là cửa ngõ hướng ra biển, gắn với cảng trung chuyển quốc tế, logistics, kinh tế hàng hải, thương mại tự do và năng lượng.

Trong khi đó, Vũng Tàu - Long Hải - Hồ Tràm trở thành cực biển - du lịch, hướng tới du lịch quốc tế, nghỉ dưỡng, kinh tế đêm, thể thao biển, chăm sóc sức khỏe và năng lượng tái tạo.

Điều đáng chú ý là giá trị của mô hình không nằm ở việc có 5 cực trên bản đồ. Giá trị thực sự nằm ở khả năng tạo ra sự phân công và bổ trợ giữa các cực. Nếu kết nối tốt, phía Đông có thể cung cấp nghiên cứu, công nghệ và nhân lực chất lượng cao; phía Bắc đảm nhận sản xuất; lõi trung tâm cung cấp tài chính, dịch vụ và thị trường; phía Nam kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu qua hệ thống cảng; còn không gian biển tạo động lực du lịch và kinh tế biển.

Khi đó, TP.HCM không đơn thuần mở rộng diện tích đô thị. Thành phố đang tổ chức lại chuỗi giá trị trên một không gian kinh tế lớn hơn.

Metro phải dẫn dắt đô thị, không chạy theo đô thị

Để các cực động lực thực sự kết nối, hạ tầng giao thông phải trở thành “xương sống” của cấu trúc mới. TS. Huỳnh Phước Nghĩa, Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH), cho rằng giao thông công cộng, đặc biệt là đường sắt đô thị, phải đi trước một bước. Đây không chỉ là bài toán vận tải, mà là bài toán tổ chức lại dân cư, việc làm và hoạt động kinh tế.

TP.HCM đang triển khai nhiều dự án metro, góp phần định hình một siêu đô thị trong tương lai. Ảnh: H.H.
TP.HCM đang triển khai nhiều dự án metro, góp phần định hình một siêu đô thị trong tương lai. Ảnh: H.H.

Theo định hướng được nêu trong các tài liệu về mạng lưới đường sắt đô thị, TP.HCM đặt mục tiêu phát triển khoảng 255 km đường sắt đô thị vào năm 2030 và hơn 1.000 km vào năm 2050.

Nhìn ở góc độ quy hoạch, con số này rất lớn. Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là metro sẽ đi qua đâu, tạo ra cực phát triển nào và làm thay đổi hành vi đô thị ra sao.

Nếu metro chỉ được xây dựng để giải tỏa những tuyến đang ùn tắc, thành phố có thể giải quyết được một phần giao thông nhưng chưa chắc tạo ra cấu trúc đa cực.

Metro cần được đặt trước một bước so với đô thị hóa. Những tuyến đường sắt mới phải đi cùng quy hoạch đất đai, nhà ở, việc làm, trường học, bệnh viện, thương mại và không gian công cộng.

Đó chính là logic của TOD. Khi một nhà ga trở thành trung tâm tiếp cận, khu vực xung quanh có thể phát triển mật độ cao hơn nhưng đồng thời giảm sự phụ thuộc vào xe cá nhân. Giá trị đất tăng lên từ hạ tầng có thể được khai thác để tạo nguồn lực tái đầu tư. Khi đó hình thành một vòng tuần hoàn: hạ tầng tạo giá trị - giá trị tạo nguồn lực - nguồn lực quay lại đầu tư hạ tầng.

Nhưng TOD cũng không nên bị hiểu đơn giản là xây thật nhiều nhà cao tầng quanh nhà ga. Ông Pang Te Cheng - Tổng lãnh sự Singapore tại TP.HCM, đưa ra một góc nhìn đáng chú ý từ kinh nghiệm Singapore: quy hoạch cuối cùng phải quay về với chất lượng sống của người dân.

Một đô thị tốt là nơi người dân có thể sống, làm việc, học tập và tiếp cận dịch vụ trong những khoảng cách hợp lí. Khi đó, giao thông công cộng không chỉ vận chuyển con người, mà giúp rút ngắn khoảng cách giữa các cơ hội.

Theo ông Pang Te Cheng, điều này rất quan trọng với TP.HCM. Bởi, một người lao động ở phía Bắc có thể làm việc ở một trung tâm công nghiệp gần nhà. Một sinh viên ở phía Đông có thể học tập, nghiên cứu và khởi nghiệp ngay trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Người dân phía Nam có thể tiếp cận việc làm gắn với cảng biển, logistics và kinh tế hàng hải. Khi đó, đa cực không chỉ là phân bố lại đất đai. Đó là phân bố lại cơ hội phát triển.

Vì vậy, một đô thị hiện đại không nên chỉ được đo bằng số kilomet metro, số tòa nhà cao tầng hay quy mô GRDP. Cần đo bằng thời gian người dân phải di chuyển, khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội việc làm trong khoảng cách hợp lí.

Không đánh đổi sinh thái để lấy tăng trưởng

Nếu hạ tầng là điều kiện để các cực phát triển, thì sinh thái là giới hạn mà các cực không thể vượt qua. TS. Phó Đức Tùng - Chuyên gia độc lập về quy hoạch đô thị, lưu ý mục tiêu tăng trưởng không nên lấn át các giá trị tự nhiên của vùng hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai.

Bến Bạch Đằng bên bờ sông Sài Gòn. Ảnh: Hoàng Quân.
Bến Bạch Đằng bên bờ sông Sài Gòn. Ảnh: Hoàng Quân.

Thiên nhiên không phải một phần diện tích còn lại sau khi đã bố trí xong đô thị và công nghiệp. Sông ngòi, vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn và các hành lang sinh thái đang thực hiện những chức năng mà một siêu đô thị không thể dễ dàng thay thế bằng công trình nhân tạo.

Theo ông Tùng, chúng giữ nước, thoát nước, giảm ngập, điều hòa nhiệt độ, hấp thụ carbon và duy trì đa dạng sinh học. Một quy hoạch có thể tạo thêm hàng triệu mét vuông sàn, nhưng không thể dễ dàng tạo lại một vùng đất ngập nước đã bị san lấp. Vì vậy, câu hỏi của quy hoạch không nên chỉ là “có thể xây dựng thêm bao nhiêu?”, mà phải là “hệ sinh thái có thể chịu được đến đâu?”.

Cùng hướng tiếp cận này, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Phượng - Viện trưởng Viện Công nghiệp Môi trường, đề xuất xây dựng bản đồ đánh giá sức chứa tài nguyên nước của toàn vùng. Đây là một đề xuất cần được nhìn như công cụ nền tảng của quy hoạch.

Bởi, một siêu đô thị với dân số lớn và hệ thống công nghiệp, dịch vụ phát triển sẽ tạo nhu cầu nước khổng lồ. Trong khi đó, nguồn nước chịu tác động đồng thời của đô thị hóa, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và ô nhiễm.

Nếu phát triển dân cư và công nghiệp trước rồi mới tính nguồn nước, thành phố sẽ luôn ở thế chạy theo xử lí hậu quả. Ngược lại, nếu biết trước sức chứa của từng lưu vực, khả năng cung cấp nước và mức độ chịu tải của hệ sinh thái, thành phố có thể định lượng giới hạn phát triển ngay từ đầu.

Đó là sự khác biệt giữa quy hoạch theo mong muốn và quy hoạch dựa trên năng lực thực tế của lãnh thổ. Đây có lẽ là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất: không để mục tiêu tăng trưởng của một thế hệ trở thành chi phí môi trường của nhiều thế hệ sau.

Sông Sài Gòn cũng nằm trong bài toán đó. Bà Nguyễn Thị Lệ - nguyên Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP.HCM, đề xuất xây dựng một đề án riêng về quản lí và phát triển sông Sài Gòn, bảo đảm hành lang ven sông dành cho không gian công cộng, cảnh quan và sinh thái.

Ý nghĩa của đề xuất này vượt ra ngoài việc chỉnh trang bờ sông. Một dòng sông có thể trở thành xương sống xanh của đô thị, nơi kết nối công viên, quảng trường, không gian đi bộ và các khu vực sinh hoạt cộng đồng. Nó cũng tạo ra mặt thoáng, điều hòa vi khí hậu và mở những khoảng thở cho đô thị.

Nếu ngược lại, từng đoạn bờ sông bị chia cắt bởi các dự án riêng lẻ, giá trị chung của dòng sông sẽ bị phân mảnh. Khi ấy, TP.HCM có thể có nhiều dự án bất động sản ven sông nhưng lại thiếu một không gian sông của cộng đồng.

Theo bà Lệ, trong tầm nhìn 100 năm, sông Sài Gòn cần được nhìn như một tài sản công có giá trị vượt qua một chu kỳ bất động sản. Một dự án có thể tồn tại vài chục năm. Một dòng sông được bảo vệ tốt có thể tạo giá trị cho hàng trăm năm.Vì vậy, bảo vệ hành lang sông không đơn thuần là giữ đất. Đó là giữ quyền tiếp cận không gian công cộng, giữ khả năng chống chịu sinh thái và giữ bản sắc đô thị cho các thế hệ tương lai.

Hoàng Bắc