Tài sản mã hóa

Việt Nam cần chuyển từ nơi tiêu dùng thành nơi tạo ra giá trị trong ngành tài sản mã hóa

Bùi Tú 23/08/2026 18:04

Việt Nam đang nổi lên như một thị trường có mức độ sở hữu và sử dụng tài sản mã hóa cao, nhưng phần giá trị kinh tế giữ lại trong nước vẫn chưa tương xứng.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam, nghịch lí này xuất phát từ khoảng cách giữa khả năng tiếp nhận công nghệ và năng lực xây dựng doanh nghiệp, sở hữu công nghệ, tài sản trí tuệ cũng như hạ tầng để tạo ra giá trị trong chuỗi cung ứng tài sản mã hóa toàn cầu.

Sở hữu nhiều tài sản mã hóa nhưng giá trị giữ lại còn thấp

Các báo cáo quốc tế trong những năm gần đây liên tục cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm thị trường có mức độ quan tâm, sở hữu và sử dụng tài sản mã hóa đáng kể. Một bộ phận lớn người dân đã sớm tiếp cận tiền mã hóa và các sản phẩm liên quan, trong khi lực lượng kỹ sư công nghệ, cộng đồng startup và khả năng tiếp nhận những mô hình kinh doanh mới cũng được đánh giá là những lợi thế của Việt Nam.

Tuy nhiên, mức độ phổ cập tài sản mã hóa chưa đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam đang thu được lượng giá trị tương ứng từ lĩnh vực này. Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, đây là "một nghịch lí giữa mức độ chấp nhận cao và khả năng giữ lại giá trị thấp".

Chuyên gia từ Đại học RMIT phân tích: "Người Việt có thể sử dụng và giao dịch rất nhiều, nhưng nếu nền tảng giao dịch ở nước ngoài, doanh nghiệp đăng kí ở nước ngoài, tài sản trí tuệ ở nước ngoài và dòng vốn cũng đi qua các trung tâm tài chính nước ngoài thì phần giá trị được giữ lại cho nền kinh tế Việt Nam sẽ tương đối hạn chế”.

Điều này cho thấy cần phân biệt rõ giữa một thị trường có lượng người dùng lớn và một quốc gia có năng lực tạo ra giá trị trong ngành tài sản mã hóa. Một người dùng Việt Nam giao dịch trên một nền tảng quốc tế có thể đóng góp vào doanh thu, thanh khoản và quy mô của nền tảng đó. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp, công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, hoạt động tài chính và phần lớn lợi nhuận nằm ngoài Việt Nam, tác động lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước sẽ bị giới hạn.

Ở chiều ngược lại, nếu doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng nền tảng, phát triển công nghệ, sở hữu tài sản trí tuệ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng quốc tế, giá trị tạo ra sẽ không chỉ nằm ở phí giao dịch. Nó còn có thể lan sang việc làm chất lượng cao, dịch vụ tài chính, công nghệ, nghiên cứu và phát triển, tư vấn pháp lí, quản trị rủi ro cũng như các ngành dịch vụ hỗ trợ.

Vì vậy, bài toán đối với Việt Nam không còn đơn thuần là làm thế nào để người dân tiếp cận tài sản mã hóa, mà là làm thế nào để hoạt động kinh tế xoay quanh tài sản mã hóa tạo ra giá trị thực và giữ được một phần đáng kể giá trị đó trong nước.

TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Không thiếu người dùng hay kỹ sư, thiếu hệ sinh thái để doanh nghiệp trưởng thành

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, nguyên nhân của nghịch lí trên không nằm ở việc Việt Nam thiếu nhân lực công nghệ hoặc thiếu người sử dụng. Vấn đề lớn hơn, theo ông, là trong một thời gian dài Việt Nam thiếu một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để doanh nghiệp tài sản mã hóa có thể phát triển ngay trong nước.

Cụ thể, những khoảng trống liên quan đến thể chế, nguồn vốn, dịch vụ tài chính, năng lực quản trị và môi trường kinh doanh đã khiến không ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài sản mã hóa phải tìm đến những thị trường có khung pháp lí và hệ sinh thái tài chính phù hợp hơn.

"Vấn đề lớn hơn là trong một thời gian dài chúng ta thiếu hạ tầng thể chế, vốn, dịch vụ tài chính, năng lực quản trị và môi trường đủ thuận lợi để doanh nghiệp tài sản mã hóa trưởng thành ngay tại Việt Nam", ông Minh nói. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt trong lúc tài sản mã hóa đang dần chuyển từ một lĩnh vực mang tính thử nghiệm sang một bộ phận ngày càng đáng chú ý của nền kinh tế số toàn cầu.

Đối với một ngành công nghệ mới, nguồn nhân lực chỉ là một điều kiện cần. Một quốc gia có thể sở hữu đội ngũ lập trình viên giỏi và hàng triệu người dùng, nhưng nếu thiếu khung pháp lí rõ ràng, khả năng tiếp cận vốn, dịch vụ ngân hàng và thanh toán, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp, cơ chế quản trị rủi ro và môi trường đủ ổn định để đầu tư dài hạn, doanh nghiệp rất khó phát triển thành những công ty có quy mô quốc tế.

Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh cũng nhận định: "Việc Việt Nam hiện triển khai thị trường thí điểm và xây dựng cơ chế cấp phép là một bước quan trọng để thu hẹp khoảng cách này". Khung pháp lí rõ ràng có thể tạo ra một thay đổi quan trọng: đưa hoạt động tài sản mã hóa từ khu vực mà doanh nghiệp phải tự tìm cách thích nghi với sự thiếu chắc chắn về chính sách sang một thị trường có luật chơi cụ thể hơn.

Khi doanh nghiệp biết mình được phép làm gì, phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào và có thể tiếp cận những dịch vụ tài chính ra sao, khả năng đầu tư dài hạn cũng sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, thể chế mới chỉ là điểm khởi đầu. Nếu mục tiêu chỉ dừng ở việc quản lí hoạt động giao dịch trong nước, Việt Nam có thể giải quyết được một phần bài toán thị trường nhưng chưa chắc tạo ra bước nhảy về năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu lớn hơn là tạo ra doanh nghiệp và công nghệ Việt Nam

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, bước đi tiếp theo không nên chỉ tập trung vào việc đưa những giao dịch hiện đang diễn ra ở nước ngoài về Việt Nam. "Mục tiêu lớn hơn phải là tạo điều kiện để Việt Nam hình thành doanh nghiệp tài sản mã hóa có khả năng cạnh tranh quốc tế, sở hữu công nghệ và tài sản trí tuệ, cung cấp dịch vụ cho thị trường khu vực và tạo ra việc làm có giá trị cao trong nước", ông Minh nhấn mạnh.

Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào năng lực sản xuất và sáng tạo thay vì chỉ nhìn vào quy mô tiêu dùng. Nếu Việt Nam chỉ có lượng lớn người mua, bán và nắm giữ tài sản mã hóa, nước ta có thể trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các nền tảng quốc tế. Nhưng nếu doanh nghiệp Việt Nam phát triển được công nghệ nền tảng, sản phẩm tài chính số, giải pháp lưu kí, phân tích dữ liệu, quản trị rủi ro, bảo mật hoặc các ứng dụng blockchain phục vụ doanh nghiệp, giá trị kinh tế tạo ra sẽ lớn hơn nhiều.

Quan trọng hơn, việc sở hữu công nghệ và tài sản trí tuệ giúp doanh nghiệp giữ lại giá trị trong nước lâu dài hơn. Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng hình thành các công ty có giá trị vốn hóa lớn và có khả năng mở rộng ra thị trường quốc tế. Theo hướng này, Việt Nam có thể tận dụng chính những lợi thế đang có: cộng đồng người dùng lớn, lực lượng nhân sự công nghệ, khả năng thích ứng nhanh với sản phẩm mới và vị trí ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.

Nhưng để biến những lợi thế đó thành giá trị kinh tế, hệ sinh thái cần được phát triển đồng bộ. Khung pháp lí phải đủ rõ để doanh nghiệp yên tâm đầu tư; hệ thống tài chính phải có khả năng hỗ trợ các mô hình kinh doanh mới; nguồn vốn cho startup cần được mở rộng; đồng thời doanh nghiệp phải nâng cao năng lực quản trị, tuân thủ và quản trị rủi ro để có thể bước vào thị trường quốc tế.

Ở góc độ này, việc xây dựng thị trường tài sản mã hóa trong nước không nên được nhìn đơn thuần như việc tạo thêm một kênh đầu tư. Nó có thể trở thành một phần của chiến lược phát triển kinh tế số nếu Việt Nam đồng thời xây dựng được năng lực sản xuất, sáng tạo và xuất khẩu dịch vụ.

Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh tóm lược sự chuyển đổi cần thiết bằng một cách tiếp cận rõ ràng: " Việt Nam cần chuyển từ nơi có nhiều người sử dụng tài sản mã hóa thành nơi tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị của nền kinh tế tài sản mã hóa. Đó mới là bước chuyển quan trọng nhất".

Nếu thực hiện được bước chuyển này, quy mô người dùng tài sản mã hóa tại Việt Nam sẽ không còn chỉ được xem như một con số phản ánh sức hấp dẫn của thị trường. Nó có thể trở thành nền tảng khách hàng ban đầu để các doanh nghiệp Việt Nam thử nghiệm sản phẩm, hoàn thiện công nghệ và sau đó mở rộng ra khu vực.

Khi đó, Việt Nam không chỉ là nơi các sản phẩm tài sản mã hóa quốc tế tìm đến để khai thác nhu cầu người dùng. Việt Nam có thể trở thành nơi những sản phẩm, công nghệ và doanh nghiệp tài sản mã hóa được tạo ra, sở hữu và xuất khẩu. Đó cũng là sự khác biệt giữa một quốc gia có thị trường tài sản mã hóa lớn và một quốc gia thực sự tạo ra giá trị trong nền kinh tế tài sản mã hóa toàn cầu.

Bùi Tú