Quy định mới

Tài sản mã hóa chính thức vào 'vùng giám sát' chống rửa tiền

Bùi Tú 24/08/2026 20:19

Quốc hội chiều 24/8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó có đề cập đến tài sản mã hóa.

Với 473/476 đại biểu có mặt tán thành, tương đương 94,6% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã thông qua gói luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

tài sản mã hóa
Quốc hội đã thông qua gói luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng

Tài sản mã hóa không còn đứng ngoài khung chống rửa tiền

Một trong những điểm đáng chú ý đối với thị trường tài chính số là “dịch vụ tài sản mã hóa” được bổ sung vào diện điều chỉnh của pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Theo quy định mới, các đối tượng báo cáo phải thông báo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về những giao dịch đáng ngờ khi có cơ sở hợp lí để nghi ngờ tài sản được giao dịch là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.

Điểm đáng chú ý nằm ở chỗ pháp luật không chỉ đặt ra yêu cầu báo cáo chung mà còn đưa ra 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa để các đơn vị có liên quan theo dõi.

Trong đó có những hành vi như chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn ngưỡng phải nhận biết khách hàng hoặc báo cáo; thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa có giá trị lớn trong thời gian ngắn nhưng không thể hiện mục đích kinh doanh rõ ràng.

Một dấu hiệu khác là việc chuyển đổi tài sản mã hóa này sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh doanh hoặc đầu tư hợp lí.

Các quy định này cho thấy cách tiếp cận của nhà quản lí đối với tài sản mã hóa đang chuyển từ việc chỉ quan tâm đến bản thân loại tài sản mới sang giám sát dòng tiền, hành vi giao dịch và nguy cơ lợi dụng tài sản mã hóa để che giấu nguồn gốc tài sản.

Với thị trường tài sản mã hóa, đây là thay đổi có ý nghĩa đáng kể. Những giao dịch diễn ra trên môi trường số có thể được thực hiện nhanh chóng, xuyên biên giới và qua nhiều loại tài sản khác nhau. Vì vậy, việc nhận diện các mô hình giao dịch bất thường trở thành một phần quan trọng trong cơ chế phòng, chống rửa tiền.

Luật cũng áp dụng nguyên tắc quản lí dựa trên rủi ro. Các đối tượng báo cáo sẽ có nghĩa vụ tương ứng với quy mô và mức độ rủi ro của từng loại hoạt động, thay vì áp dụng một cách tiếp cận giống nhau cho mọi trường hợp.

Siết giám sát nhưng không đồng nghĩa “cấm” tài sản mã hóa

Việc đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào khuôn khổ phòng, chống rửa tiền cần được nhìn nhận đúng bản chất. Quy định này trước hết nhằm kiểm soát nguy cơ tài sản mã hóa bị lợi dụng cho các hoạt động bất hợp pháp, chứ không phải là một quy định cấm giao dịch tài sản mã hóa.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với xu hướng quản lí tài sản số trên thế giới, trong đó trọng tâm ngày càng chuyển sang việc xác định danh tính khách hàng, theo dõi giao dịch và phát hiện những dòng tiền có dấu hiệu bất thường.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài sản mã hóa, điều này đồng nghĩa yêu cầu về kiểm soát nội bộ, nhận biết khách hàng và giám sát giao dịch sẽ trở nên quan trọng hơn.

Đặc biệt, những giao dịch có cấu trúc bất thường sẽ không thể chỉ được đánh giá dựa trên giá trị của từng giao dịch riêng lẻ. Việc chia nhỏ một giao dịch lớn thành nhiều giao dịch nhỏ cũng nằm trong nhóm dấu hiệu cần được theo dõi.

Tương tự, việc liên tục chuyển đổi giữa nhiều loại tài sản mã hóa mà không chứng minh được mục đích kinh doanh hoặc đầu tư hợp lí cũng có thể trở thành tín hiệu cảnh báo.

Bên cạnh tài sản mã hóa, luật sửa đổi còn hoàn thiện trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính và các bộ, ngành trong công tác phòng, chống rửa tiền; đồng thời xác lập nguyên tắc thanh tra, kiểm tra và giám sát dựa trên mức độ rủi ro.

Đáng chú ý, liên quan đến tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, dự thảo nghị định hướng dẫn sẽ cụ thể hóa các tiêu chí và lượng hóa tối đa quyền kiểm soát thực tế. Chính phủ cũng sẽ chỉ đạo điều chỉnh khái niệm này trong Luật Doanh nghiệp để bảo đảm thống nhất giữa các quy định pháp luật.

Nhìn rộng hơn, việc tài sản mã hóa được đưa vào hệ thống phòng, chống rửa tiền cho thấy Việt Nam đang từng bước xây dựng một khung quản lí chính thức đối với lĩnh vực tài sản số, thay vì để hoạt động này nằm ngoài các cơ chế giám sát tài chính truyền thống.

Với thị trường, đây vừa là yêu cầu tuân thủ mới, vừa có thể là bước quan trọng để tạo nền tảng pháp lí cho sự phát triển minh bạch hơn của các dịch vụ tài sản mã hóa.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1/12/2026. Từ thời điểm này, việc nhận diện và báo cáo các giao dịch tài sản mã hóa có dấu hiệu bất thường sẽ trở thành một phần chính thức trong hệ thống phòng, chống rửa tiền của Việt Nam.

Bùi Tú