Kinh tế

APAC đang gặp lỗi cấu trúc hệ thống 'đường ống dẫn tiền': Việt Nam làm gì để hút dòng vốn 4.000 tỉ USD đang ‘chảy máu’?

Thế Lâm 28/08/2026 18:01

Trong một báo cáo mới phát hành, hãng kiểm toán Deloitte cho biết ngành dịch vụ tài chính của Việt Nam đang nằm trong tốp tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC).

Châu Á - Thái Bình Dương đang đóng vai trò dẫn dắt trong nền tài chính toàn cầu...

Theo báo cáo “Từ tăng trưởng đến lợi thế: Cạnh tranh vì tương lai của ngành dịch vụ tài chính tại Châu Á - Thái Bình Dương” của Deloitte, đến năm 2030, tổng sản phẩm nội vùng Châu Á - Thái Bình Dương (APAC) được dự báo sẽ đạt quy mô gần 54.000 tỉ USD, tăng trưởng 37% so với năm 2024. Giá trị gia tăng kinh tế do ngành dịch vụ tài chính Châu Á - Thái Bình Dương tạo ra dự kiến sẽ tăng từ 2.400 tỉ USD năm 2024 lên 4.800 tỉ USD năm 2035, vượt qua Mỹ - quốc gia dự kiến chỉ đạt 4.300 tỉ USD trong cùng thời kỳ.

Deloitte nhận định, Châu Á - Thái Bình Dương đang đóng vai trò dẫn dắt trong nền tài chính toàn cầu, làm thay đổi cách thức các nguồn vốn được huy động, phân bổ và luân chuyển qua các biên giới. Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) tiếp tục củng cố vị thế là các trung tâm tài chính toàn cầu, thiết lập nên những tiêu chuẩn mới.

thị trường dịch vụ tài chính thị trường vốn ngân hàng trái phiếu doanh nghiệp deloitte-2
Nguồn: Deloitte

... nhưng đang gặp lỗi cấu trúc hệ thống đường ống dẫn tiền

Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các doanh nghiệp lớn hoặc các dự án dài hạn (như hạ tầng, công nghệ cao) đang rất cần vốn. Tuy nhiên, hệ thống tài chính hiện tại không thể đáp ứng được vì bị nghẽn ở khâu cấu trúc vận hành, dù tiền trong nền kinh tế không hề thiếu.

Vấn đề thứ nhất là nền tài chính trong khu vực phụ thuộc quá lớn vào các ngân hàng thương mại. Các kênh huy động vốn khác như thị trường chứng khoán (cổ phiếu) hoặc thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển rất yếu. Khi doanh nghiệp cần tiền, họ gần như chỉ biết tìm đến ngân hàng. Thứ hai, đây là khu vực người dân và tổ chức gửi rất nhiều tiền vào ngân hàng, lượng tiền mặt và vốn lưu động trong nền kinh tế là khổng lồ. Thế nhưng, đây cũng là khu vực đang thiếu các sản phẩm tài chính đa dạng, thiếu các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí dài hạn hoặc các công cụ phái sinh. Tiền chỉ chạy quanh các kỳ hạn ngắn hạn, không được tối ưu hóa để chuyển thành các nguồn vốn đầu tư phức tạp. Thứ ba, đối với nhiều dự án cần vốn rất lớn, thời gian thu hồi vốn cực dài (10-30 năm) như xây đường cao tốc, sân bay, năng lượng tái tạo, hoặc các dự án khởi nghiệp công nghệ rủi ro cao, thì hệ thống tài chính khu vực lại có ít năng lực tài trợ, cho vay nhất.

Deloitte nhận định, rào cản ở đây không phải là thiếu vốn, mà là cấu trúc, đó là lỗi ở hệ thống đường ống dẫn tiền, được thiết kế theo kiểu cũ: chỉ mạnh về cho vay ngắn hạn, thế chấp tài sản, tiêu dùng; thiếu một “cấu trúc” như thị trường vốn dài hạn, thị trường trái phiếu sâu rộng,… để biến dòng tiền tiết kiệm ngắn hạn của người dân thành dòng vốn đầu tư dài hạn cho quốc gia.

Theo nghiên cứu, tín dụng ngân hàng tại 13 nền kinh tế lớn của Châu Á - Thái Bình Dương chiếm trung bình 122% GDP (tương đương khoảng 54.000 tỉ USD), so với mức 73% ở Bắc Mỹ và 98% ở ba nền kinh tế lớn của Châu Âu (Đức, Anh, Pháp). Ngược lại, tài chính dựa trên thị trường vốn (market-based financing) chỉ chiếm khoảng 53% GDP, chưa bằng một nửa độ sâu của khu vực Bắc Mỹ (Mỹ, Canada, đạt 120%).

Cấu trúc này làm hạn chế các lựa chọn tài trợ vốn, vì các ngân hàng thường ưu tiên đối tượng vay là các doanh nghiệp quy mô lớn và tài sản thế chấp, trong khi thị trường vốn lại phù hợp hơn để tài trợ cho các tài sản dài hạn, hoạt động đổi mới sáng tạo và tăng trưởng.

Ngân hàng bản chất là huy động tiền gửi ngắn hạn của dân (vài tháng đến 1-2 năm) nên không thể đem dòng tiền ngắn hạn đó đi cho vay dài hạn vài chục năm, vì nguy cơ mất thanh khoản. Ngân hàng cũng cực kỳ sợ rủi ro nên không thể "ném tiền" vào các dự án công nghệ “được ăn cả ngã về không”.

Việt Nam đang đứng ở đâu trong khoảng trống cấu trúc hệ thống tài chính khu vực?

Theo báo cáo của Deloitte, Việt Nam như một “ngôi sao đang lên” trong thị trường tài chính khu vực về mức độ tăng trưởng kép (CAGR) hàng năm. Trong giai đoạn 2024 - 2035, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành tài chính Việt Nam đạt 9,1%. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam áp đảo hầu hết các quốc gia có nền tài chính phát triển hơn như: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan…, và chỉ xếp dưới Philippines. Còn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tốc độ tăng trưởng kép hàng năm của Việt Nam được dự báo chỉ xếp dưới Philippines và Ấn Độ.

Deloitte dự báo, quy mô đóng góp ròng của ngành tài chính Việt Nam sẽ tăng từ khoảng 15 tỉ USD năm 2024 lên khoảng 45 tỉ USD vào năm 2035. Sự tăng trưởng này được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của tầng lớp trung lưu (APAC sẽ có thêm 362 triệu hộ trung lưu vào năm 2034) và tốc độ số hóa nền kinh tế thuộc tốp nhanh nhất thế giới. Nhìn chung, mặc dù tăng trưởng nhanh nhưng qui đổi ra giá trị tuyệt đối, Việt Nam hiện vẫn đứng ở nhóm cuối bảng trong khu vực về qui mô và năng lực hấp thụ dòng vốn lớn. Cụ thể, qui mô ngành dịch vụ tài chính Việt Nam năm 2024 chỉ bằng 1/10 so với Nhật Bản (khoảng 140 tỉ USD), 1/5 so với Singapore (khoảng 80 tỉ USD) và chưa bằng 1/3 so với quốc gia láng giềng Indonesia (khoảng 55 tỉ USD).

thị trường dịch vụ tài chính thị trường vốn ngân hàng trái phiếu doanh nghiệp deloitte-1
Nguồn: Deloitte

Về thị trường trái phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 11-13% GDP, còn kém xa mức trung bình 37% của 13 nước lớn trong khu vực.

Theo xếp hạng của IMF (IMF Financial Development Index), chỉ số phát triển tài chính tích lũy hiện tại của Việt Nam vẫn ở nhóm cuối. Trong khi đó, chỉ số hạn chế quy định FDI của OECD (OECD FDI Regulatory Restrictiveness Index) được Doloitte dẫn lại cũng cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có rào cản, quy định hạn chế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao đáng kể (đạt mức tương đương 0,22, cao hơn nhiều so với Singapore là 0,07 và Nhật Bản 0,05). Điều này giải thích vì sao Việt Nam khó giữ chân và tối ưu hóa được dòng vốn ngoại. Deloitte nhận định, về quy mô và độ sâu tài chính, Việt Nam vẫn ở “vùng trũng” cơ bản.

Làm gì để hút dòng vốn 4.000 tỉ USD trong khu vực đang ‘chảy máu’?

Một con số rất đáng chú ý được Deloitte chỉ ra là, khu vực APAC sở hữu lượng vốn đầu tư thặng dư khổng lồ khoảng 4.000 tỉ USD (tương đương 10% hoạt động kinh tế). Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư danh mục (Portfolio Investment - cổ phiếu, trái phiếu) nội vùng chỉ đạt 22%, còn lại 78% dòng tiền đầu tư tài chính của người dân và các quỹ tại APAC đang chảy ra khỏi khu vực, chủ yếu chảy về thị trường Mỹ và Âu châu để trú ẩn. Nhưng sau đó, một phần dòng tiền này lại được các định chế tài chính phương Tây quay vòng, đầu tư ngược lại vào châu Á.

Việt Nam đang đứng ở vạch xuất phát của một chu kỳ bùng nổ, dù có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ 9,1% nhưng “bộ khung hạ tầng tài chính” quá chật hẹp, thô sơ và chịu nhiều rào cản kiểm soát. Nếu không nhanh chóng phát triển thị trường vốn (đặc biệt là nâng hạng thị trường chứng khoán, mở rộng thị trường trái phiếu và số hóa tài sản), Việt Nam sẽ bỏ lỡ dòng vốn 4.000 tỉ USD đang dịch chuyển từ Tây sang Đông.

Theo đó, Việt Nam không cần phải sao chép lại mô hình ngân hàng truyền thống của phương Tây, mà có thể bứt phá thẳng lên mô hình Tài sản kỹ thuật số và Token hóa (Tokenisation), phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ hưu trí dài hạn để giữ chân dòng vốn nội và thu hút khối ngoại bền vững.

Thế Lâm