Kinh tế

Thị trường Trung Quốc: Cơ hội lớn, nhưng cũng 'khó tính' hơn với thủy sản Việt Nam

Thế Lâm 31/08/2026 18:00

Với quy mô dân số hơn 1,4 tỉ người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và nhập khẩu thủy sản tiếp tục tăng, Trung Quốc đang trở thành một trong những thị trường quan trọng nhất đối với thủy sản Việt Nam.

Nhập khẩu tăng, nhưng cấu trúc nhu cầu đang thay đổi

Trong nửa đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 2,31 triệu tấn thủy sản, trị giá 10,1 tỉ USD, tăng khoảng 6% về lượng và 0,3% về giá trị. Đáng chú ý, khoảng cách giữa tốc độ tăng lượng và giá trị cho thấy một vấn đề quan trọng: thị trường đang nhập khẩu nhiều hơn nhưng không đồng nghĩa giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm cũng tăng tương ứng.

Đây chính là điểm mà các doanh nghiệp xuất khẩu cần đặc biệt lưu ý. Một thị trường có kim ngạch nhập khẩu lớn chưa chắc đồng nghĩa với một thị trường dễ kiếm lợi nhuận. Khi nguồn cung dồi dào, giá bán có thể chịu sức ép ngay cả khi khối lượng tiêu thụ vẫn tăng.

Nhìn dài hạn, quy mô nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc đã mở rộng rất mạnh. Giai đoạn 2016-2019, giá trị nhập khẩu tăng từ khoảng 3,1 tỉ USD lên 11,4 tỉ USD. Sau cú sốc COVID-19, nhu cầu phục hồi nhanh và tiếp tục tạo nền tảng cho sự gia tăng của dòng thủy sản nhập khẩu.

Điểm đáng chú ý hơn nằm ở sự thay đổi mục đích nhập khẩu. Nếu trước đây một phần đáng kể thủy sản nhập khẩu được đưa vào chuỗi chế biến rồi tái xuất, thì hiện nay tỉ trọng sản phẩm phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng lớn.

Thủy sản trung - cao cấp tăng tốc: “miếng bánh” Việt Nam đang có lợi thế

Một trong những thay đổi rõ nhất của thị trường Trung Quốc là sự tăng trưởng của nhóm thủy sản trung và cao cấp.

Cá hồi, cua hoàng đế, tôm hùm cùng nhiều loại thủy sản sống, tươi đang hưởng lợi từ nhu cầu tại các nhà hàng, khách sạn, tiệc cao cấp, quà biếu và nhóm người tiêu dùng có thu nhập cao.

Chế biến phi lê cá tra tại một doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Ảnh: ANV.
Chế biến phi lê cá tra tại một doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Ảnh: ANV.

Năm 2025, Na Uy chiếm khoảng 77% nguồn cung cá hồi nhập khẩu vào Trung Quốc, trong khi Chile chiếm khoảng 17%. Với cua, giá trị nhập khẩu tăng khoảng 53%, trong đó Nga chiếm gần 58%, chủ yếu nhờ cua hoàng đế. Tôm hùm thậm chí còn cho thấy sự dịch chuyển mạnh hơn. Giá trị nhập khẩu năm 2025 tăng khoảng 47%, trong đó Việt Nam chiếm tỷ trọng đáng kể.

Một số dữ liệu cho thấy lợi thế của Việt Nam đã thể hiện rất rõ ở phân khúc này. Riêng tôm hùm xanh, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng 840 triệu USD, tăng 131% so với năm trước; khối lượng đạt 24.067 tấn, tương đương khoảng 34,5% thị phần nhập khẩu tôm hùm xanh của Trung Quốc.

Thậm chí, trong tổng kim ngạch tôm hùm Việt Nam xuất khẩu năm 2025, Trung Quốc chi khoảng 845 triệu USD, gần như chiếm toàn bộ kim ngạch xuất khẩu 858 triệu USD mặt hàng này của Việt Nam.

Khoảng cách địa lý cũng là một lợi thế kinh tế. Đối với thủy sản sống, việc Việt Nam nằm ngay cạnh một thị trường tiêu thụ khổng lồ như Trung Quốc tạo ra lợi thế mà nhiều đối thủ ở xa khó có thể dễ dàng thay thế.

Trung Quốc từ “thị trường lớn” thành động lực tăng trưởng của thủy sản Việt Nam

Tầm quan trọng của Trung Quốc đối với thủy sản Việt Nam đang được thể hiện ngày càng rõ qua kim ngạch xuất khẩu.

Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 11,3 tỉ USD, trong đó Trung Quốc đạt gần 1,69 tỉ USD, tăng 10,27% so với năm 2024 và chiếm gần 15% tổng kim ngạch toàn ngành.

Nhưng bước sang năm 2026, tốc độ tăng trưởng tại thị trường này đáng chú ý hơn nhiều. Trong 6 tháng đầu năm, Trung Quốc và Hong Kong đã nhập khẩu khoảng 1,5 tỉ USD thủy sản Việt Nam, tăng gần 38% so với cùng kỳ và chiếm hơn 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Đến 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc và Hong Kong đạt khoảng 1,74 tỉ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước (Một nguồn số liệu khác từ Hải quan cho thấy riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,6 tỉ USD, tăng 37% trong 7 tháng đầu năm).

Dù có khác biệt về phạm vi thống kê, các con số đều chỉ về cùng một hướng: Trung Quốc đang là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của thủy sản Việt Nam trong năm 2026. Điều này càng đáng chú ý trong bối cảnh tăng trưởng toàn ngành đang có dấu hiệu chậm lại.

7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 6,78-6,85 tỉ USD, tăng khoảng 11,5-12,8% tùy nguồn thống kê. Trong khi đó, tháng 7 chỉ tăng khoảng 4,8% theo số liệu VASEP, cho thấy đà tăng trưởng chung bắt đầu chịu sức ép. Nói cách khác, nếu các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản gặp nhiều biến động, thì Trung Quốc đang đóng vai trò như một “bộ đệm” quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Cá tra và tôm vẫn là “hàng chủ lực”, nhưng cuộc chơi đã khác

Không phải toàn bộ cơ hội tại Trung Quốc đều nằm ở phân khúc cao cấp. Các sản phẩm phục vụ thị trường đại chúng vẫn chiếm một phần rất lớn trong nhu cầu của quốc gia hơn 1,4 tỉ dân. Trong nhóm này, tôm và cá tra tiếp tục là hai mặt hàng có vị trí đáng kể.

Tôm là một trong những nhóm thủy sản nhập khẩu lớn nhất của Trung Quốc. Theo VASEP, 8 tháng đầu năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 4,81 tỉ USD tôm, tăng 13% so với cùng kỳ; riêng tôm nước ấm đông lạnh đạt hơn 3,17 tỉ USD.

Tôm chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất 5 tháng đầu năm 2026. Nguồn: VASEP.
Tôm chiếm tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao. Nguồn: VASEP.

Ecuador hiện là nguồn cung lớn, tiếp đến là Ấn Độ và Việt Nam. Chính vì vậy, đây cũng là phân khúc mà doanh nghiệp Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh trực tiếp mạnh nhất. Đáng chú ý, Ecuador không còn chỉ cạnh tranh bằng tôm nguyên liệu giá thấp. Nguồn cung của nước này đang mở rộng sang tôm bỏ đầu, bóc vỏ và sản phẩm chế biến, tiến sâu hơn vào những phân khúc mà trước đây các nhà máy châu Á có ưu thế.

Với cá tra, câu chuyện có phần khác. Việt Nam gần như là nguồn cung chủ đạo của cá tra nhập khẩu vào Trung Quốc. Lợi thế giá, khả năng cung ứng ổn định và sự phù hợp với phân khúc nhà hàng, catering và tiêu dùng đại chúng giúp cá tra đã xây dựng được vị trí khá sâu tại thị trường này.

Nhưng đây cũng là thị trường mà giá bán có vai trò đặc biệt quan trọng. Khi người tiêu dùng Trung Quốc thận trọng hơn trong chi tiêu, nhà hàng và các kênh dịch vụ ăn uống chưa phục hồi hoàn toàn, nhà nhập khẩu có xu hướng ưu tiên sản phẩm có giá cạnh tranh và quay vòng nhanh. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam có thể bán được nhiều hàng hơn nhưng chưa chắc có thể tăng lợi nhuận tương ứng.

Cơ hội không còn nằm ở “bán nhiều hơn”, mà ở “bán đúng hơn”

Một trong những sai lầm lớn nhất nếu nhìn thị trường Trung Quốc chỉ bằng quy mô dân số là coi đây như một thị trường đồng nhất. Thực tế, Trung Quốc là tập hợp của nhiều thị trường nhỏ với mức thu nhập, khẩu vị, hệ thống phân phối và thói quen tiêu dùng khác nhau.

Miền Nam Trung Quốc có lợi thế cho thủy sản sống và tươi nhờ khoảng cách gần với Việt Nam. Các sản phẩm đông lạnh, giá cạnh tranh có thể phù hợp hơn với những thị trường đại chúng và khu vực nội địa. Trong khi đó, thực phẩm chế biến sẵn, tiện lợi có thể tiếp tục mở rộng cùng sự phát triển của nhóm người tiêu dùng trẻ và các chuỗi nhà hàng.

Sự phân hóa này đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp Việt Nam: không thể chỉ xác định “Trung Quốc” là một thị trường xuất khẩu, mà phải xác định cụ thể bán sản phẩm nào, cho khu vực nào, qua kênh nào và phục vụ nhóm khách hàng nào.

Đây cũng là lý do phân khúc thủy sản sống có thể trở thành một lợi thế đặc biệt của Việt Nam. Với những sản phẩm có giá trị cao như tôm hùm, khoảng cách địa lý và khả năng vận chuyển nhanh có thể tạo ra lợi thế lớn hơn nhiều so với cạnh tranh đơn thuần về giá.

Thế Lâm