Văn hóa - Đời sống

Dùng AI và công nghệ 3D bảo tồn nền văn hóa giữa rừng nhiệt đới

Bùi Tú 01/09/2026 07:56

Giữa vùng rừng nhiệt đới Darién hiểm trở, người Guna đã gìn giữ văn hóa qua nhiều thế hệ bằng những tấm vải mola, ngôn ngữ và các hình thức truyền đạt mang đậm dấu ấn cộng đồng.

Giờ đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Virginia (UVA) đang tìm cách đưa những di sản ấy lên không gian số, từ quét 3D hiện vật đến huấn luyện AI nhận diện tiếng Guna, với mục tiêu cuối cùng không chỉ là lưu trữ mà còn giúp cộng đồng bản địa kết nối trở lại với di sản của chính mình.

Dùng AI và công nghệ 3D bảo tồn nền văn hóa giữa rừng nhiệt đới
Rừng nhiệt đới Darién. Ảnh: LHQ

Những tấm mola lưu giữ kí ức giữa rừng nhiệt đới Darién

Từ trên những chiếc trực thăng bay về phía bắc Colombia và Panama, Darién Gap hiện ra như một vùng đất gần như bất khả xâm nhập với đầm lầy, rừng rậm và núi non trải dài giữa hai quốc gia. Nhưng với người Guna (cộng đồng bản địa sinh sống tại khu vực Darién), đây không chỉ là một vùng địa lí hiểm trở mà còn là quê hương, nơi lưu giữ lịch sử, kí ức và bản sắc văn hóa qua nhiều thế hệ.

Trong những năm gần đây, âm thanh của trực thăng đôi khi trở thành một phần đáng sợ trong cuộc sống của người dân tại đây. Với một cô bé Guna, tiếng trực thăng thậm chí từng gắn với nỗi lo về khả năng các nhóm vũ trang đi qua khu vực.

Rolando Vargas, trợ lí giáo sư lịch sử nghệ thuật tại Đại học Virginia, kể rằng cô bé đã tìm đến một phương thức truyền thống để đối phó với nỗi sợ ấy là làm một tấm mola. “Âm thanh của trực thăng có thể rất khó chịu; đôi khi nó báo hiệu rằng các nhóm bán quân sự sẽ đi qua trong một hoặc hai ngày tới”, Vargas giải thích. “Làm một tấm mola là một chiến lược lành mạnh để không còn gặp ác mộng về những chiếc trực thăng”.

Mola là một dạng nghệ thuật dệt truyền thống của người Guna, được phụ nữ và trẻ em gái trong cộng đồng thực hành từ khoảng giữa thế kỉ XIX. Những tấm vải này có thể mang màu sắc, hoa văn và kích thước rất khác nhau, nhưng đều có ý nghĩa vượt xa giá trị trang trí.

Đối với phụ nữ Guna, mola là một phần của trang phục phù hợp với bản sắc cộng đồng. Những họa tiết trên đó có thể liên quan tới môi trường tự nhiên, các biểu tượng tinh thần hoặc những hình thức trừu tượng. Một số mola còn được sử dụng với mục đích bảo vệ con người trước điều không may hoặc thể hiện những niềm tin tâm linh.

Slenka Botello, nghiên cứu sinh tiến sĩ lịch sử nghệ thuật tại UVA, cho biết mola được tạo nên từ nhiều lớp vải. Người làm có thể xếp và cắt các lớp theo cách cho phép những phần vải bên dưới dần lộ ra, tạo nên những hoa văn phức tạp.

Chính kĩ thuật thủ công đặc biệt ấy khiến mỗi tấm mola không chỉ là một sản phẩm dệt may mà còn là một vật thể chứa đựng tri thức và kí ức của cộng đồng.

Mola cũng không chỉ được lưu giữ trong cộng đồng Guna. Những người phụ nữ Guna bán chúng cho khách phương Tây, trong đó những thiết kế cầu kì và đẹp mắt có thể được trả giá cao. Qua quá trình trao đổi này, các tác phẩm đã theo chân người mua và nhà sưu tập rời khỏi Darién, xuất hiện trong các bộ sưu tập ở nhiều quốc gia.

Điều đó tạo ra một vấn đề ngày càng quan trọng. Đó là làm thế nào để người Guna có thể tiếp cận lại những hiện vật văn hóa đang nằm ở bên ngoài cộng đồng của họ?

Quét 3D và AI mở một cánh cửa mới

Đây là câu hỏi mà Vargas và Botello đang tìm cách giải quyết thông qua một dự án tại UVA. Hai nhà nghiên cứu đang xây dựng các bản quét 3D của mola cùng nhiều hiện vật khác của người Guna để hình thành một triển lãm bảo tàng kĩ thuật số được đưa lên mạng. Dự án được thực hiện với sự tham vấn của các cộng tác viên bản địa tại Darién.

Điểm khác biệt của dự án nằm ở việc các nhà nghiên cứu không chỉ muốn chụp ảnh hiện vật rồi đưa lên một website. Theo Botello, mola là những vật thể ba chiều và chúng cần được thể hiện theo cách đó, bởi hình dáng, cấu trúc và cách các lớp vải được tạo nên có ý nghĩa đối với cộng đồng.

Vì vậy, công nghệ quét 3D có thể trở thành một phương tiện quan trọng để lưu giữ những đặc điểm mà hình ảnh hai chiều khó truyền tải đầy đủ. Nhưng dự án còn đi xa hơn việc số hóa hiện vật. Nhóm nghiên cứu còn muốn sử dụng AI để chuyển lời nói tiếng Guna thành văn bản.

Đây là một thách thức không nhỏ. Giống nhiều ngôn ngữ bản địa khác, tiếng Guna có rất ít tài liệu được viết lại và lưu trữ theo phương thức phổ biến trong các ngôn ngữ lớn. Vargas cho biết từng có một số linh mục người Tây Ban Nha cố gắng dịch Kinh Thánh sang tiếng Guna, nhưng những tài liệu bằng chính ngôn ngữ của cộng đồng vẫn tương đối hạn chế.

Lisa Blackmore, giám đốc Trung tâm Nhân văn số tại UVA, cho rằng đây chính là nơi AI có thể mở ra một hướng nghiên cứu mới.

Theo bà, việc huấn luyện một mô hình AI để nhận diện tiếng nói và chuyển thành văn bản đòi hỏi một lượng dữ liệu đáng kể. Dự án vì thế không chỉ là câu chuyện ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình xây dựng một kho dữ liệu ngôn ngữ vốn trước đây rất hạn chế.

Blackmore đánh giá đây là ví dụ cho thấy AI có thể được sử dụng theo những cách thử nghiệm và sáng tạo trong nghiên cứu có sự gắn kết với xã hội.

Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của AI trong trường hợp này có lẽ không nằm ở việc tạo ra một công cụ công nghệ mới. Nó nằm ở khả năng giúp một ngôn ngữ ít được số hóa có thêm cơ hội tồn tại trong môi trường kĩ thuật số.

Nếu tiếng Guna có thể được ghi âm, chuyển thành văn bản và lưu trữ có hệ thống, thế hệ sau sẽ có thêm nguồn tư liệu để học ngôn ngữ của tổ tiên. Những câu chuyện được truyền miệng cũng có thể được bảo tồn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào trí nhớ của từng thế hệ.

Đó là một cách tiếp cận khác với quan niệm truyền thống rằng bảo tồn di sản chỉ đơn giản là đưa hiện vật vào tủ kính.

Từ bảo tồn kĩ thuật số đến trả lại di sản cho cộng đồng

Đằng sau dự án số hóa của UVA còn là một mục tiêu lớn hơn. Đó là kết nối người Guna với những di sản đang nằm xa quê hương và về lâu dài có thể hỗ trợ việc hồi hương hiện vật.

Darién là địa bàn khó tiếp cận đối với những người không quen thuộc với địa hình. Tuy nhiên, Vargas lưu ý rằng điều đó không có nghĩa người Guna sống biệt lập với thế giới bên ngoài.

Họ có mối liên hệ lâu dài với nhiều cộng đồng và các nhóm xã hội khác, trong đó có các nhà sưu tập, học giả phương Tây. Vị trí gần kênh đào Panama cũng tạo điều kiện cho những hoạt động giao lưu văn hóa và kinh tế.

Một nghịch lí vì thế xuất hiện là có rất nhiều nghiên cứu về người Guna được viết bằng tiếng Italy, Tây Ban Nha, Thụy Điển hay tiếng Anh. Thế nhưng, lại có rất ít tài liệu được viết bằng chính tiếng Guna. “Tôi đã phải ghép những mảnh ghép này lại với nhau”, Vargas nói.

Ông biết đến một bộ sưu tập hiện vật Guna thông qua các đồng nghiệp Italy. Trong nhiều thập niên, một nhà sưu tập tại Florida từng lưu giữ tới khoảng 3.000 tác phẩm Guna trong một kho chứa.

Một phần nhỏ trong số hiện vật đó đã được giới thiệu trong một cuốn sách xuất bản năm 2026. Nhưng ngay cả khi cuốn sách ra đời, một câu hỏi khác vẫn tồn tại. Đó là làm thế nào đưa tri thức ấy trở lại với người Guna và làm thế nào bảo vệ nó khỏi sự xuống cấp theo thời gian?

Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng tại Darién, nơi độ ẩm có thể lên tới khoảng 90%. Độ ẩm cao khiến các sợi trong giấy và vải liên tục hấp thụ nước, giãn nở rồi chịu tác động vật lí, qua đó đẩy nhanh quá trình xuống cấp của tài liệu và hiện vật. Số hóa vì thế trở thành một lớp bảo vệ bổ sung. Một hiện vật có thể hư hỏng theo thời gian, nhưng bản ghi kĩ thuật số của nó có thể được sao lưu và tiếp cận từ nhiều nơi.

Quan trọng hơn, dự án hướng tới việc đưa những tài liệu này trở lại với chính cộng đồng đã tạo ra chúng. Botello cho rằng việc giúp những người bên ngoài các tổ chức học thuật tiếp cận tri thức, đồng thời kết nối cộng đồng Guna với các bộ sưu tập, là điều đặc biệt quan trọng.

Website mà nhóm nghiên cứu xây dựng dự kiến không chỉ có hình ảnh và mô hình 3D. Nó còn có các bản ghi âm người Guna nói về những hiện vật do chính họ hoặc người thân tạo ra.

Cách làm này vô tình gợi lại một truyền thống giao tiếp từng tồn tại trong cộng đồng. Vào những năm 1980, khi muốn liên lạc với người ở một ngôi làng khác, người Guna đôi khi ghi âm giọng nói của mình vào băng cassette rồi gửi đi thay vì viết thư. Theo một nghĩa nào đó, đó là phiên bản công nghệ thấp của một tin nhắn thoại ngày nay.

Vargas từng mang cuốn sách về bộ sưu tập hiện vật trở lại Darién và chứng kiến phản ứng của cộng đồng. Với người Guna, cuốn sách không đơn thuần là một tài liệu học thuật hay một ấn phẩm về nghệ thuật. Họ nhìn nó như một cuốn sách ảnh ghi lại những đồ vật mà người thân của họ từng làm trong thế kỉ XX. Khoảnh khắc ấy cho thấy ý nghĩa sâu xa nhất của công nghệ trong dự án này.

Quét 3D, website hay AI không phải đích đến. Chúng chỉ là những công cụ giúp kí ức văn hóa vượt qua khoảng cách địa lí, thời gian và những giới hạn của việc lưu trữ truyền thống.

Với người Guna, một tấm mola có thể là trang phục, tác phẩm nghệ thuật, vật trao đổi hoặc phương tiện xua đuổi nỗi sợ. Một giọng nói có thể là phương tiện liên lạc giữa hai ngôi làng. Và giờ đây, những hiện vật cùng giọng nói ấy có thể được lưu giữ trong không gian số.

Thách thức lớn nhất vì vậy không phải là làm thế nào để AI hiểu tiếng Guna hay làm thế nào tạo ra một mô hình 3D đẹp mắt. Câu hỏi quan trọng hơn là ai sở hữu dữ liệu, ai được quyền tiếp cận và cộng đồng Guna có thực sự giữ vai trò trung tâm trong việc quyết định cách di sản của họ được số hóa hay không.

Nếu những câu hỏi ấy được giải quyết thỏa đáng, công nghệ có thể trở thành một cây cầu thay vì một lớp kính mới ngăn cách cộng đồng với di sản của mình. Từ những đường kim, lớp vải của một tấm mola đến những thuật toán nhận diện tiếng nói, câu chuyện của người Guna đang cho thấy một điều: Trong thời đại AI, bảo tồn văn hóa không nhất thiết là quay lưng với công nghệ. Ngược lại, công nghệ có thể giúp những truyền thống cổ xưa tìm được một đời sống mới – miễn là tiếng nói của cộng đồng vẫn là trung tâm.

Bùi Tú