Cuộc đời nhà khoa học

GS. Lê ThiKì 2: Chuyến rẽ lối của nữ trí thức và hành trình tìm tiếng nói cho phụ nữ

Hồng Thanh - Nam Phong 02/09/2026 09:00

Rời khỏi lễ đài Ba Đình lịch sử với tư cách là người thiếu nữ kéo cờ ngày Độc lập, GS. Lê Thi đã trải qua một hành trình dài đầy kiêu hãnh: Từ chiến sĩ kiên trung của Trung đoàn Thủ đô đến Viện trưởng Viện Triết học, rồi người tiên phong đặt nền móng cho ngành Nghiên cứu Giới tại Việt Nam. Trọn đời bà đã dành để đi tìm quyền tự do, phẩm giá và tiếng nói cho những người phụ nữ ở góc khuất của lịch sử.

kì 2
kì 2

Lịch sử gọi tên Lê Thi

Trong cuộc trò chuyện cùng PV (tháng 8/2017), GS. Lê Thi kể lại rằng, sáng sớm ngày 2/9/1945, Hà Nội rực cờ hoa, dòng người từ khắp nơi đổ ra các tuyến đường dẫn về Quảng trường Ba Đình để đón chờ thời khắc quan trọng của lịch sử.

Ba Đình ngày 2/9/1945

"Hôm đó tôi mặc áo dài trắng, chân đi giày bata, tay cầm một cái gậy, vừa đi vừa hô "một - hai"... Đến đầu giờ chiều thì chúng tôi đến quảng trường Ba Đình, chúng tôi tập trung lại bên dưới lễ đài. Tôi thấy các đoàn thể đứng theo giới, phụ nữ, thanh niên, công nhân, viên chức… Đoàn phụ nữ cứu quốc của quận Hoàn Kiếm tình cờ lại đứng ngay phía trên cùng. Lúc gần đến giờ khai mạc, người của Ban tổ chức tiến đến và đề nghị “các chị cử 1 người lên kéo cờ”. Khi đó, tất cả im bặt, ngơ ngác nhìn nhau, không ai xung phong lên. Rồi một lúc sau, các chị đồng thanh hô: "Thi lên đi" - bà Thi nhớ lại.

Bà còn nhớ, khi lên lễ đài, "tôi vừa đi vừa run, vì sợ kéo không được ở dưới nhiều người sẽ trách vì đó là sự kiện trọng đại của đất nước và tôi cũng không được tập trước. Khi bước tới gần lễ đài, tôi gặp 1 phụ nữ ăn mặc trang phục người Tày, sau đó chúng tôi dắt tay nhau bước tới lễ đài. Khi tới nơi, tôi bảo với chị ấy là em cao để em kéo, còn chị đỡ cờ. Khi bài hát Tiến quân ca vang lên, chúng tôi từ từ kéo lá cờ Tổ quốc lên cao, khi cờ vừa lên đến đỉnh, tung bay cũng là lúc bài hát kết thúc. Lúc đó tôi biết tôi đã hoàn thành nhiệm vụ" - bà Thi từng xúc động kể.

Tôi vừa đi vừa run, vì sợ kéo không được ở dưới nhiều người sẽ trách vì đó là sự kiện trọng đại của đất nước và tôi cũng không được tập trước.

GS. Lê Thi, tháng 8/2017

"Đó là một điều vô cùng may mắn đối với tôi" - khuôn mặt bà trở nên rạng ngời.

Mãi về sau này, những năm 80, bà mới được biết người phụ nữ Tày kéo cờ cùng mình là bà Đàm Thị Loan, phu nhân của Đại tướng Hoàng Văn Thái.

Từ bóng cờ Ba Đình đến khói lửa trung đoàn Thủ đô

Nếu ngày 2/9/1945 đưa Dương Thị Thoa (GS. Lê Thi) bước vào biên niên sử dân tộc với tư cách người thiếu nữ kéo cờ trên Quảng trường Ba Đình, thì 60 ngày đêm khói lửa của Toàn quốc kháng chiến tại Hà Nội năm 1946 đã tôi luyện nên một phiên bản kiên cường khác ở bà. Rời khỏi lễ đài lịch sử, nữ sinh 19 tuổi không chọn an phận trong hậu phương yên bình mà tiếp tục lăn xả trong các phong trào cách mạng của tuổi trẻ Thủ đô. Bà tích cực hoạt động trong phong trào Phụ nữ Cứu quốc, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và đội tuyên truyền.

anh-2.jpg
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng Trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ảnh tư liệu

Cuối năm 1946, khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bà gia nhập lực lượng tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu rồi chính thức công tác tại đội tuyên truyền, thông tin liên lạc của khu Hoàn Kiếm. Trong những ngày giao tranh vô cùng ác liệt của Trung đoàn Thủ đô, giữa mưa bom bão đạn và khói lửa mịt mù của chiến tranh đô thị, hình ảnh người thiếu nữ thanh lịch ngày nào nay xuất hiện kiên cường tại các ụ chiến đấu. Bà cùng đồng đội miệt mài đọc báo Chiến thắng, động viên tinh thần chiến sĩ, khâu vá từng chiếc áo trận và thăm hỏi, chăm sóc các thương binh nơi tuyến đầu.

Đặc biệt, trong những năm tháng chiến đấu ấy, có một chi tiết phản ánh vô cùng rõ nét nền tảng học thức Tây học vững chắc của bà: Trong một lần đối mặt với tình hình căng thẳng tại trận địa, bà từng trực tiếp sử dụng thành thạo tiếng Pháp - thứ ngôn ngữ được đào tạo bài bản từ mái trường nữ sinh Đồng Khánh - để giao tiếp, tuyên truyền và đối thoại trực tiếp với những người lính Pháp ở phía bên kia chiến tuyến. Hành động đó không chỉ đòi hỏi sự dũng cảm, gan dạ vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái chết, mà còn là sự hội tụ tinh tế của bản lĩnh thép và trí tuệ được trang bị từ một gia đình khoa bảng danh tiếng. Đối với thế hệ của bà, tuổi trẻ và chiến tranh gần như không có khoảng cách. Họ dấn thân không phải để ghi danh sử sách, mà vì họ biết rằng đất nước đang đứng trước những thử thách sinh tử đòi hỏi sự hi sinh của mỗi cá nhân.

Tháng 2/1947, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, bà cùng Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút lui bí mật, đầy gian khổ khỏi vòng vây của địch để lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, bà tiếp tục gắn bó máu thịt với phong trào phụ nữ, công tác bình dân học vụ và vận động sản xuất tại các địa bàn Vĩnh Yên, Tuyên Quang. Sống hòa mình giữa những người nông dân lao động nghèo khó, đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống thôn quê, những trải nghiệm thực tế vô cùng phong phú và sinh động ấy đã gieo mầm những nhận thức xã hội đầu tiên trong tâm trí của nhà khoa học tương lai. Bà bắt đầu nhận ra một chân lí sâu sắc rằng đằng sau những khẩu hiệu cách mạng lớn lao là số phận của những con người cụ thể, những gia đình cụ thể và đặc biệt là những người phụ nữ đang chịu đựng biết bao nhọc nhằn, thiệt thòi dưới đáy xã hội.

Ngã rẽ khoa học: Từ triết học đến những câu hỏi về xã hội

Bước ngoặt lớn đánh dấu sự chuyển hướng từ hoạt động thực tiễn sang nghiên cứu khoa học hàn lâm diễn ra vào năm 1957. Nhận thấy năng lực và tư duy chính trị sắc sảo của bà, tổ chức đã cử bà đi học lớp lí luận chính trị cao cấp khóa đầu tiên tại Trường Nguyễn Ái Quốc – ngôi trường đào tạo cán bộ lãnh đạo chiến lược hàng đầu lúc bấy giờ. Sau thời gian miệt mài nghiên cứu, tiếp thu hệ thống tri thức lí luận mác-xít, bà chính thức chuyển từ công tác thực tiễn sang nghiên cứu lí luận chuyên sâu. Năm 1961, bà được phân công về công tác tại Ban Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước, sau đó chuyển về làm việc lâu dài tại Viện Triết học.

gs.-le-thi-2017(1).jpeg
Cố GS. Lê Thi. Ảnh chụp tháng 8/2017

Tại môi trường học thuật này, từ một cán bộ nghiên cứu trẻ, với năng lực nổi trội, tư duy nhạy bén và tinh thần làm việc tận tụy, bà lần lượt bước lên những nấc thang quan trọng trong sự nghiệp khoa học. Bà từng giữ các trọng trách lớn như Tổng biên tập Tạp chí Triết học, Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Triết học vào năm 1981. Những cống hiến bền bỉ của bà đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua các học hàm uy tín: Bà được phong hàm Phó Giáo sư năm 1982 và Giáo sư năm 1992.

Tuy nhiên, điều đáng quý và làm nên bản sắc riêng của GS. Lê Thi không nằm ở các chức vụ hay học hàm cao quý, mà nằm ở quá trình chuyển hóa sâu sắc trong tư duy nghiên cứu của bà. Từ những công trình lí luận vĩ mô ban đầu về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về các quy luật phát triển xã hội và triết học con người, tầm nhìn của bà dần dịch chuyển và hướng sát vào những vấn đề thực tiễn của đời sống thường nhật. Sự quan tâm của bà không còn dừng lại ở các khái niệm triết học khô khan, mà bắt đầu xoay quanh vị thế của con người, vai trò của gia đình và đặc biệt là số phận, quyền lợi của người phụ nữ trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.

Quá trình chuyển hướng ấy không phải là một sự ngẫu nhiên hay đột ngột, mà là sự tích tụ tất yếu của cả một cuộc đời: Từ kí ức của cô nữ sinh Đồng Khánh từng âm thầm phản kháng sự bất công của xã hội thuộc địa, từ truyền thống gia đình nơi cha mẹ dạy con cái sự bình đẳng trong học tập và tư duy; cho đến những năm tháng sát cánh cùng phụ nữ nông thôn trên chiến khu Việt Bắc. Tất cả đã nhào nặn nên một nhà khoa học luôn trăn trở tìm lời giải cho những vấn đề bức thiết của con người.

Tiên phong nghiên cứu lĩnh vực giới ở Việt Nam

Đỉnh cao trong sự nghiệp khoa học của GS. Lê Thi được đánh dấu vào năm 1987. Sau khi kết thúc nhiệm kì Viện trưởng Viện Triết học, với tầm nhìn chiến lược và sự nhạy cảm sắc bén trước các vấn đề xã hội đang đặt ra trong thời kì Đổi mới, bà đã dồn toàn bộ tâm huyết, trí tuệ để thành lập Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình (tiền thân của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới ngày nay). Quyết định này chính là hành động đặt những viên gạch hồng đầu tiên, khai mở một ngành khoa học liên ngành hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam thời điểm bấy giờ.

Bà Lê Thi (trái) chụp ảnh cùng bà Đàm Thị Loan ở Quảng trưởng Ba Đình năm 1997. Ảnh tư liệu
Bà Lê Thi (trái) chụp ảnh cùng bà Đàm Thị Loan ở Quảng trưởng Ba Đình năm 1997. Ảnh tư liệu

Trong quan niệm làm khoa học của bà, nghiên cứu không thể chỉ ngồi trong phòng máy lạnh để suy diễn bằng những con số thống kê khô khan hay các lí thuyết sách vở xa rời thực tế. Để thấu hiểu tường tận những vấn đề của người phụ nữ, GS. Lê Thi đã xắn quần điền dã khắp các vùng quê từ đồng bằng Bắc Bộ như Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, qua các tỉnh miền núi như Hòa Bình cho đến các vùng nông trường xa xôi. Bà trực tiếp đến từng gia đình, gặp gỡ, trò chuyện, lắng nghe và thậm chí ăn ở, ngủ cùng những người phụ nữ nghèo khó, những người mẹ đơn thân, những mảnh đời chịu nhiều thiệt thòi và định kiến khắc nghiệt của xã hội cũ.

“Tôi đồng cảm với những phụ nữ đơn thân” - GS. Lê Thi từng chia sẻ một cách chân thành và giản dị như chính tuyên ngôn nghiên cứu của cuộc đời mình.

Chính sự thấu cảm sâu sắc từ trái tim một nhà trí thức lớn đã thổi hồn vào hơn 50 đầu sách chuyên khảo cùng hàng trăm bài báo khoa học có giá trị to lớn của bà. Tiêu biểu trong số đó là công trình nghiên cứu công phu Cuộc sống phụ nữ đơn thân ở Việt Nam xuất bản năm 2002. Các công trình của bà không dừng lại ở tháp ngà lí luận mà luôn trực tiếp cung cấp những luận cứ khoa học thực tiễn vô cùng quý giá để Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban ngành hoạch định chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện giáo dục gia đình và thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp bình đẳng giới ở nước ta.

Hành trình tìm lại tiếng nói cho phụ nữ - quyền được sống của con người

Nhìn lại toàn bộ hành trình gần một thế kỉ gắn bó với vận mệnh đất nước của GS. Lê Thi, chúng ta nhận ra một sợi chỉ đỏ xuyên suốt vô cùng đẹp đẽ và cảm động. Năm 1945, ở tuổi 19, bà đứng hiên ngang trên Quảng trường Ba Đình để kéo lá cờ đại diện cho độc lập, tự do của cả một dân tộc vừa rũ bỏ xiềng xích nô lệ. Nửa thế kỉ sau, trên mặt trận khoa học xã hội, bà lại dành trọn phần đời còn lại để đi tìm câu trả lời cho một trăn trở sâu xa khác: Trong một quốc gia đã giành được độc lập, liệu người phụ nữ thực sự đã được tự do, bình đẳng và có tiếng nói quyết định đối với cuộc đời mình hay chưa?

Chân dung GS. Lê Thi trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (năm 2020). Ảnh: NP
Chân dung GS. Lê Thi trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (năm 2020). Ảnh: NP

Khi GS. Lê Thi đi về cõi vĩnh hằng vào cuối tháng 8/2020, bà đã khép lại một cuộc đời oanh liệt nhưng vô cùng dung dị, mẫu mực. Từ một tiểu thư khuê nữ Hà thành, một thiếu nữ vinh dự kéo cờ ngày Độc lập, một nữ chiến sĩ kiên trung của Trung đoàn Thủ đô cho đến một nhà khoa học đầu ngành, người đặt nền móng cho ngành Nghiên cứu Giới tại Việt Nam, cuộc đời bà là minh chứng sống động cho thấy lịch sử không chỉ được viết nên bởi những biến cố vĩ đại trên quảng trường lớn. Lịch sử còn được định hình từ những trăn trở thầm lặng, bền bỉ đối với từng mảnh đời bé nhỏ, từ góc bếp gia đình cho đến những khát vọng rất đỗi bình thường của con người.

Lá cờ đỏ sao vàng mà bà kéo lên vào mùa thu năm 1945 là biểu tượng huy hoàng của độc lập dân tộc. Còn những công trình khoa học, những trang sách miệt mài mà bà dày công nghiên cứu suốt phần đời còn lại lại hướng tới một thứ độc lập khác, âm thầm hơn, sâu sắc hơn nhưng cũng đầy nhọc nhằn: Quyền được sống một cuộc đời có phẩm giá, có tiếng nói và có quyền tự quyết của mỗi người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới.

Từ người thiếu nữ kiêu hãnh kéo cờ trên Quảng trường Ba Đình cho đến nhà khoa học miệt mài bảo vệ quyền sống, quyền tự do của phụ nữ cuối đời, cuộc đời GS. Lê Thi thực sự là một bản hùng ca thầm lặng. Bà đã sống một cuộc đời trọn vẹn, không hoài phí, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử tư tưởng, khoa học và phong trào phụ nữ Việt Nam thế kỷ XX và XXI.

Hồng Thanh - Nam Phong