Kinh tế

846.000 tỉ đồng AUM và 6% GDP: Không chỉ là ‘khoảng trống tiền’ mà còn là khoảng trống niềm tin

Thế Lâm 05/09/2026 09:30

846.000 tỉ đồng tổng tài sản quản lý tại các quỹ nghe có vẻ là một con số lớn. Nhưng đặt cạnh quy mô nền kinh tế, ngành quản lý quỹ Việt Nam mới tương đương khoảng 6% GDP.

846.000 tỉ đồng: tăng gần 7 lần nhưng vẫn “nhỏ” so với nền kinh tế

Con số 6% GDP thấp xa so với Thái Lan (hơn 31%), Malaysia (hơn 56%), Hàn Quốc (84%), và Trung Quốc (hơn 57%). Đây là những con số được chia sẻ tại Hội nghị “Đầu tư thông minh trong kỷ nguyên số: Nhận diện cơ hội đầu tư qua các quỹ” mới đây. Tại sự kiện này, ông Nguyễn Công Minh - Trưởng Ban Quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) - cho biết, Việt Nam hiện có 43 công ty quản lý quỹ và 142 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó 106 quỹ đại chúng.

Tổng tài sản quản lý (AUM) tại các quỹ đã tăng từ khoảng 124.000 tỉ đồng cuối năm 2015 lên hơn 846.000 tỉ đồng cuối tháng 6/2026, tức tăng 6,8 lần, tương đương tốc độ tăng bình quân hơn 20% mỗi năm. Nhìn riêng tốc độ tăng trưởng, đây là một ngành đang phát triển nhanh. Nhưng nhìn theo tỉ trọng trong nền kinh tế, AUM mới tương đương khoảng 6% GDP cho thấy ngành quỹ Việt Nam không chỉ còn nhỏ, mà còn cho thấy một lượng lớn tài sản trong dân chưa đi qua các định chế đầu tư chuyên nghiệp.

quỹ đầu tư tổng tài sản quản lý nhà đầu tư tài sản tài chính-1
(Infographic do AI tạo)

Người Việt giữ tiền quá “thủ”?

Theo bà Nguyễn Ngọc Linh - Tổng giám đốc DNSE, Việt Nam tới thời điểm này có khoảng 13,7 triệu tài khoản chứng khoán. Nhưng sau khi loại trừ tài khoản trùng lặp, tỉ lệ dân số thực sự tham gia đầu tư chỉ khoảng 6%. Đáng chú ý hơn, tài sản tài chính mới chỉ chiếm khoảng 9% tổng tài sản hộ gia đình. Phần lớn tài sản còn lại, chủ yếu ở bất động sản, tiền gửi tiết kiệm và vàng.

Lúc này, vàng không còn là nơi trú ẩn an toàn đối với những nhà đầu tư lướt sóng ngắn ngày trên thị trường.
Vàng - kênh đầu tư ưa thích của rất nhiều người Việt. Ảnh minh họa.

Trên thị trường cũng không thiếu tiền. Bằng chứng là, đến hết tháng 6/2026, tổng tiền gửi tại hệ thống ngân hàng lên tới hơn 11 triệu tỉ đồng. Vấn đề là tiền đang được cất giữ dưới những hình thức mà người dân cảm thấy quen thuộc và dễ kiểm soát hơn, như gửi tiết kiệm, mua vàng, đầu tư vào bất động sản, và một phần nhỏ ở chứng khoán. Tuy nhiên, nếu cho rằng người Việt quá “thủ” trong đầu tư tài sản cũng chưa hẳn chính xác, và càng ít thuyết phục khi chỉ lập luận rằng nhà đầu tư Việt Nam thiếu kiến thức về thị trường đầu tư. Bởi việc đầu tư vào một sản phẩm tài chính hoàn toàn khác những tài sản vật chất, trong đó yếu tố quan trọng nhất là niềm tin, bắt nguồn từ việc xây dựng những sản phẩm tài chính minh bạch và hiệu quả.

Nhà đầu tư cá nhân đang chiếm đa số và có xu hướng tự đầu tư thay vì thông qua các định chế tài chính chuyên nghiệp.

Ngành quỹ đã thực sự đủ hấp dẫn để người dân trao tiền?

Tổng giám đốc VCBF, bà Nguyễn Thị Hằng Nga, chia sẻ: Quỹ mở đã xuất hiện cách nay hơn 10 năm nhưng tổng quy mô tài sản mới đạt khoảng 66.000 tỉ đồng, dưới 0,1% GDP, dù thị trường có gần 13,7 triệu tài khoản chứng khoán và khoảng 2,4 triệu tài khoản chứng chỉ quỹ.

Đáng nói hơn, hiệu quả của các quỹ cổ phiếu không phải lúc nào cũng vượt được mức tăng của VN-Index. Trong 3 năm tính đến cuối tháng 2/2026, khoảng 2/3 số quỹ có mức sinh lời thấp hơn VN-Index. Tuy nhiên nếu kéo dài thời gian đầu tư, kết quả khả quan hơn: Khoảng 70% quỹ vượt VN-Index trong 5 năm, và 55% vượt VN-Index trong 10 năm.

Những con số trên phản ánh, sự duy trì được hiệu quả đầu tư vượt trội trong thời gian dài chỉ tập trung ở một số ít công ty quản lý quỹ. Thêm một vấn đề nữa là ngưỡng tâm lý của nhà đầu tư. Ít nhà đầu tư nào lại chịu được cảnh “chờ đợi mỏi mòn” lên tới 5 năm, 10 năm để một công ty quản lý quỹ mang lại cho họ hiệu quả đầu tư cao hơn mức tăng của VN-Index. Trong khi đó, quãng thời gian 3 năm đầu tư đã là khá dài nhưng hiệu quả đầu tư của quỹ lại không vượt được chỉ số, càng khiến cho nhà đầu tư ít ưa chuộng.

846.000 tỉ đồng tương ứng 6% GDP không nên chỉ được hiểu là “khoảng trống tiền đầu tư” mà còn có cả khoảng trống niềm tin.

6% GDP không phải chỉ là “khoảng trống tiền” mà là khoảng trống niềm tin

Muốn người dân chuyển tiền từ những tài sản quen thuộc sang quỹ, không thể chỉ nói rằng họ cần được giáo dục tài chính. Trong bối cảnh thị trường các sản phẩm đầu tư tài chính tại Việt Nam hiện nay, việc giáo dục kiến thức có thể giúp người dân hiểu để đa dạng hóa kênh, sản phẩm đầu tư và quản trị rủi ro. Nhưng niềm tin, sẽ là yếu tố quan trọng song hành. Bên cạnh việc đưa ra được các sản phẩm phù hợp theo mục tiêu tài chính, độ tuổi, khẩu vị rủi ro và thời gian đầu tư, các quỹ cần phải tạo được niềm tin đối với nhà đầu tư bằng sự minh bạch hơn về hiệu suất sau phí, mức độ rủi ro và khả năng vượt qua các chu kỳ thị trường.

Trên thị trường hiện nay, nhà đầu tư cá nhân đang chiếm đa số và có xu hướng tự đầu tư thay vì thông qua các định chế tài chính chuyên nghiệp. Điều này thể hiện rất rõ qua con số gần 13,7 triệu tài khoản đầu tư chứng khoán, trong đó số tài khoản của nhà đầu tư cá nhân gần như ở mức tuyệt đối.

Con số 846.000 tỉ đồng tương ứng khoảng 6% GDP còn một khoảng cách rất xa với tỉ trọng hơn 31% của Thái Lan, hơn 56% của Malaysia, hay 84% của Hàn Quốc không nên chỉ được hiểu là “khoảng trống tiền đầu tư” mà còn nên được hiểu gồm cả khoảng trống niềm tin và sự phù hợp với nhu cầu. Việc gia tăng AUM sẽ là một hành trình dài hạn chuyển đổi nền kinh tế với trạng thái tài sản “tiền trong dân rất nhiều” chôn giữ vào đất, vàng, tiền gửi sang một nền kinh tế với tiền nhàn rỗi được phân bổ có phương pháp vào những tài sản tạo ra tăng trưởng dài hạn.

Thế Lâm