Kinh tế ẩm thực số: Lan tỏa văn hóa Việt bằng dữ liệu và hình ảnh
Nhật Hạ (Thực hiện)•06/09/2026 07:00
Trong kỷ nguyên số hóa, ẩm thực Việt Nam không còn chỉ dừng lại ở những không gian bếp hay các hàng quán truyền thống. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ hình ảnh tiên tiến, thuật toán phân phối "đuôi dài" và trí tuệ nhân tạo (AI), những món ăn quen thuộc như phở, bánh mì, cà phê sữa đá đang được chuyển hóa thành những "nội dung số" có sức lan tỏa toàn cầu.
Phở - món ăn được nhiều du khách quốc tế biết đến trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Ảnh: Viet Kitchen
Tuy nhiên, đằng sau hàng triệu lượt xem trên các nền tảng mạng xã hội là một câu hỏi mang tính cốt lõi: Công nghệ đang thực sự giúp du khách quốc tế thấu hiểu chiều sâu văn hóa bản địa, hay chỉ là công cụ kích thích thị giác bề nổi để họ tìm kiếm điểm đến nhanh hơn?
Từ món ăn truyền thống đến "mỏ neo" nội dung số trên không gian mạng
Ẩm thực từ lâu đã được xem là một trong những công cụ quảng bá du lịch và văn hóa vô cùng hiệu quả nhờ tính trải nghiệm đặc thù. Tiến sĩ Justin Matthew Pang, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Quản trị du lịch và khách sạn tại Đại học RMIT Việt Nam, chia sẻ vớiMột Thế Giới: “Ẩm thực là một 'điểm thu hút' mang tính trải nghiệm và hữu hình, tác động đến cả 5 giác quan của con người. Ẩm thực phản ánh sâu sắc văn hóa và di sản của một địa phương thông qua tính xác thực và những đặc trưng khó có thể sao chép”. Chính vì sức hút cảm giác mạnh mẽ này, các quốc gia luôn sử dụng ẩm thực như một mũi nhọn chiến lược để định vị thương hiệu du lịch.
Tiến sĩ Justin Matthew Pang, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Quản trị du lịch và khách sạn tại Đại học RMIT Việt Nam. Ảnh: TL
“
Ẩm thực phản ánh sâu sắc văn hóa và di sản của một địa phương thông qua tính xác thực và những đặc trưng khó có thể sao chép
Tiến sĩ Justin Matthew Pang
Trong thời đại số hóa, ẩm thực Việt Nam đã nhanh chóng dịch chuyển từ đời sống thực tế lên không gian mạng, trở thành những "mỏ neo" nội dung số thu hút sự chú ý khổng lồ. Các món đặc sản đặc trưng như phở, bánh mì, bún chả hay cà phê sữa đá... không còn là ẩm thực thuần túy, mà với sự hỗ trợ của thuật toán, nền tảng, đã trở thành các sản phẩm truyền thông đa phương tiện.
Nhà báo, Food blogger Giang Vũ - tác giả của hai cuốn sách: 30 món mứt ngon của người Việt; Ăn cơm với cá - 30 món cá 3 miền, nói với Một Thế Giớirằng công nghệ đã thay đổi hoàn toàn phương thức sản xuất nội dung ẩm thực. Trước đây, việc giới thiệu một món ăn chủ yếu dựa vào các bài viết kèm ảnh tĩnh. Hiện nay, một câu chuyện ẩm thực có thể được kể bằng rất nhiều hình thức phong phú: ảnh động, video ngắn (Shorts, TikTok, Reels), video dài dạng phim tài liệu trải nghiệm, đồ họa, dữ liệu, bản đồ ẩm thực trực tuyến, thậm chí cả phim được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo (AI).
Sự thay đổi này cũng xóa nhòa khoảng cách giữa người làm nội dung và công chúng tiếp nhận. Trên môi trường số, phản ứng của người xem diễn ra tức thời. Nhà sáng tạo nội dung có thể đo lường hành vi khán giả một cách chi tiết: Họ dừng lại ở giây thứ mấy, họ thích phân cảnh nào, họ để lại bình luận gì, thời gian xem trung bình bao lâu, hay họ lựa chọn chia sẻ video đó đến những ai. Ẩm thực số lúc này không chỉ là nghệ thuật nấu nướng, mà đã trở thành một ngành khoa học dữ liệu truyền thông thực thụ.
Food blogger Giang Vũ trong một work shop với các hướng dẫn viên du lịch về món phở. Ảnh: NVCC
Công nghệ phía sau ống kính: Sức mạnh của âm thanh, ánh sáng và trợ lý ảo AI
Để một món ăn Việt Nam bước ra thế giới qua màn hình điện thoại, các nhà sáng tạo nội dung phải trải qua một quy trình kỹ thuật quay dựng và hậu kỳ vô cùng tỉ mỉ. Với ẩm thực, chất lượng hình ảnh và âm thanh đóng vai trò quyết định để khơi gợi cảm giác thèm ăn.
Bánh mì, cà phê sữa đá... là những món làm nên nét văn hóa ẩm thực của Sài Gòn.
Food Blogger Giang Vũ nhấn mạnh vai trò của thiết bị chuyên nghiệp: “Thiết bị quay và ánh sáng tốt tạo ra khác biệt rất rõ. Một chiếc máy ảnh tốt, ống kính phù hợp, hệ thống ánh sáng được kiểm soát tốt sẽ thể hiện được màu sắc, độ bóng, kết cấu và những chi tiết rất nhỏ của món ăn: độ trong của nước dùng, lớp mỡ óng trên bề mặt, làn khói nóng hay độ giòn của một món chiên”. Những chi tiết siêu cận cảnh này tác động trực tiếp đến hệ thần kinh vị giác của người xem, biến hình ảnh gián tiếp thành trải nghiệm cảm giác sống động.
Với ẩm thực, chất lượng hình ảnh và âm thanh đóng vai trò quyết định để khơi gợi cảm giác thèm ăn, vì vậy, các thiết bị chuyên nghiệp rất quan trọng. Ảnh minh họa trong một buổi setup chụp hình món ăn tại Viet Kitchen.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ quay dựng cần sự am hiểu thực tế thay vì chạy đua thông số. Thực tế, theo chị Giang Vũ, chất lượng 4K/8K chỉ phù hợp cho các video dài đăng trên YouTube hoặc trình chiếu màn hình lớn. Đối với video dọc dạng ngắn đăng trên Reels hay TikTok, độ phân giải từ 2K trở xuống mới là tối ưu, bởi thuật toán của các nền tảng này sẽ tự động nén chất lượng file, dễ gây giật lag nếu dung lượng quá nặng.
Trong khi đó, Chen Ru Lu, nhà phê bình ẩm thực và là thành viên Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam, người sở hữu cộng đồng hơn 700.000 người theo dõi trên các nền tảng số, cũng đồng tình khi chia sẻ kinh nghiệm thực tế rằng: “Xuất phát điểm của tôi cũng chỉ với một chiếc điện thoại cá nhân và đến khi chạm mốc hơn 200.000 người theo dõi tôi mới bắt đầu đầu tư nâng cấp sang máy ảnh chuyên nghiệp hay micro chất lượng cao. Thiết bị đắt tiền giúp hình ảnh đẹp hơn, nhưng chính cảm xúc chân thật và giá trị thông tin mới là thứ giữ chân người xem ở lại lâu dài”.
Chen Ru Lu là gương mặt quen thuộc trong giới ẩm thực của các khách sạn, resort. Cô từng xuất hiện trên tạp chí Robb Report Việt Nam; Việt Nam Heritage... Ảnh: NVCC
Bên cạnh hình ảnh, âm thanh chính là yếu tố tạo nên trải nghiệm đa giác quan cho người xem. Tiếng thái thịt đều đặn, tiếng xèo xèo náo nhiệt khi phi hành tỏi, tiếng nước dùng sôi sùng sục trên bếp lửa, hay tiếng cắn giòn tan của lớp vỏ bánh mì nướng... tất cả tạo nên "ASMR ẩm thực" kích thích tối đa vị giác của du khách quốc tế.
“
Ở khâu hậu kỳ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trợ lý đắc lực giúp phá vỡ rào cản ngôn ngữ với chi phí tối thiểu.
Tiến sĩ Phạm Hương Trang, Phó chủ nhiệm bộ môn Quản trị du lịch và khách sạn tại Đại học RMIT Việt Nam, nhận định AI giúp các nhà hàng nhỏ, người bán hàng địa phương và các nhà sáng tạo độc lập tự sản xuất phụ đề, lồng tiếng đa ngôn ngữ để tiếp cận thị trường quốc tế chỉ trong vài giờ. Dù vậy, giới hạn của AI nằm ở chỗ nó không có tư duy văn hóa bản địa.
Food blogger Giang Vũ chia sẻ kinh nghiệm sử dụng AI dịch thuật: “Tôi luôn kiểm tra lại phần dịch, đặc biệt với tên món ăn, nguyên liệu, kỹ thuật chế biến hay những khái niệm gắn với văn hóa Việt Nam. Có những từ nếu chỉ dịch đúng về mặt ngôn ngữ thì vẫn chưa chắc đã truyền tải đúng về mặt văn hóa”. Đồng thời, các khâu cắt cảnh, lựa chọn nhịp phim nhanh chậm, giữ lại âm thanh hiện trường ấm áp của căn bếp hay để hình ảnh tự kể chuyện chân thật.
Một bản đồ ẩm thực với những món ăn phổ biến ở từng vùng miền Việt Nam được tạo ra nhanh chóng với sự hỗ trợ của AI. Theo Food blogger Giang Vũ, AI có thể giúp chị ý tưởng, dựa trên đó cần họa sĩ thiết kế vẽ lại cho đẹp và chính xác "vì AI không thể làm hoàn hảo được mà chỉ dừng ở bước lên ý tưởng thì rất tốt".
Thuật toán số và cơ hội "đuôi dài" đưa ẩm thực Việt tiếp cận toàn cầu
Sự thay đổi trong thuật toán phân phối nội dung của các nền tảng mạng xã hội đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho văn hóa ẩm thực Việt Nam. Các nền tảng như TikTok, YouTube hiện nay không phân phối nội dung một cách cào bằng, mà dựa trên hành vi và sở thích cá nhân hóa của từng người dùng.
Chen Ru Lu phân tích, mỗi nền tảng sở hữu thuật toán phân phối và tệp khán giả hoàn toàn riêng biệt. Với YouTube, cô tập trung sản xuất các video dài, tối ưu nội dung chuyên sâu để giữ chân người xem lâu nhất (watch time, retention). Ngược lại, với TikTok, cô ưu tiên tối ưu hóa video ngắn dưới dạng dọc, đặt tiêu đề giật tít, trực diện để bắt trọn sự chú ý của người xem trong 3 giây đầu tiên. Sự linh hoạt này giúp nội dung ẩm thực Việt tối đa hóa độ phủ sóng trên toàn cầu.
Dưới góc nhìn học thuật, Tiến sĩ Phạm Hương Trang gọi đây là cơ hội "đuôi dài" (long-tail) đáng chú ý. Thuật toán hiện đại cho phép ẩm thực Việt Nam tiếp cận thế giới mà không cần phải nổi tiếng trên toàn cầu từ trước. Bằng cách kết nối những câu chuyện ẩm thực đặc thù với nhóm khán giả có khả năng quan tâm nhất, các nền tảng số có thể biến một món ăn địa phương ít người biết đến, một người bán hàng ở chợ hay một truyền thống nấu ăn gia đình thành lý do đầu tiên khiến ai đó cân nhắc đến Việt Nam. Cơ hội này giúp thế giới vượt qua ranh giới của những món ăn quen thuộc như phở hay bánh mì, để khám phá sự đa dạng ẩm thực vùng miền trải dài khắp đất nước.
Tiến sĩ Phạm Hương Trang. Ảnh: NVCC
Ví dụ điển hình cho tiềm năng thuật toán này là trường hợp của bà Mai, người bán trái cây tại bãi biển Nha Trang. Một cuộc trò chuyện tình cờ, mộc mạc giữa bà và du khách người Anh Local Lou được ghi hình lại, sau đó được nghệ sĩ Nam Phi The Kiffness biên tập, remix âm nhạc một cách sáng tạo. Nhờ thuật toán khuếch đại, video đã bùng nổ mạnh mẽ với khoảng 40 triệu lượt xem trên toàn cầu. Một khoảnh khắc tương tác đời thường vô cùng giản dị của người dân bản địa, dưới sức mạnh của thuật toán số, đã trở thành một hiện tượng văn hóa quốc tế, giới thiệu hình ảnh con người Việt Nam hiếu khách đến với bạn bè năm châu.
Clip “Mango, Pineapple, Banana, Watermelon” của du khách người Anh Local Lou từng gây bão với khoảng hơn 40 triệu lượt xem trên toàn cầu. Video lấy cảm hứng trực tiếp từ câu rao quen thuộc của bà Mai - người phụ nữ bán trái cây (trong ảnh) tại Nha Trang. Ảnh: Local Lou
Từ lượt xem ảo trên mạng xã hội đến giá trị kinh tế ẩm thực thực tế
Tuy nhiên, sự thành công của một chiến dịch quảng bá ẩm thực trên mạng xã hội có nên chỉ được đo bằng những con số "triệu view", lượt thích hay lượt chia sẻ?
Theo Chen Ru Lu: “Video triệu view mới chỉ là bước đầu tiên để gây chú ý thôi. Nếu chỉ dừng ở lượt xem thì đó mới là sự tò mò bề nổi, chưa thể gọi là quảng bá văn hóa thành công. Sự hiệu quả thực sự phải đo bằng hành động thực tế. Đó là khi du khách quốc tế chịu xách balo đến tận địa phương đó, tìm đúng nhà hàng, gọi đúng món ăn và sẵn sàng chi trả để trải nghiệm. Khi video tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho người dân bản địa và giúp món ăn đó có sức sống lâu dài, lúc ấy việc quảng bá văn hóa mới thực sự trọn vẹn”.
Đồng quan điểm, Thạc sĩ Hà Quách (Vincent), giảng viên ngành Quản trị du lịch và khách sạn tại Đại học RMIT Việt Nam, khẳng định các chỉ số thích và xem trên mạng xã hội không phản ánh toàn bộ câu chuyện kinh tế du lịch. Để đánh giá hiệu quả thực tế, cơ quan du lịch cần tiến hành khảo sát trực tiếp những du khách đã đến địa phương để xác định liệu nội dung ẩm thực trên môi trường số có phải là động lực thôi thúc họ thực hiện chuyến đi hay không.
Thạc sĩ Hà Quách (Vincent). Ảnh: NVCC
Bên cạnh đó, cần xem xét hiệu ứng lan tỏa kinh tế: Lượng khách và doanh thu tại các điểm tham quan lân cận, các tour du lịch hay hệ thống khách sạn có tăng lên hay không? Một chiến dịch quảng bá ẩm thực thành công phải chứng minh được giá trị thực tế bằng cách đưa thêm du khách và nguồn chi tiêu trực tiếp vào nền kinh tế địa phương.
Trong việc tạo dựng niềm tin cho du khách thực hiện hành động chuyển đổi này, các nhà sáng tạo nội dung độc lập đang nắm giữ ưu thế lớn so với các kênh truyền thông chính thức của ngành du lịch. Thạc sĩ Hà Quách lý giải, các creator độc lập mang lại cảm giác chân thực nhờ lối đánh giá đa chiều. Họ không bị ràng buộc bởi các KPI quảng bá hay mục tiêu thương hiệu của cơ quan quản lý, sẵn sàng khen một món ăn ngon nhưng cũng nhanh chóng chỉ ra những điểm chưa tốt, chưa vệ sinh của quán ăn. Chính sự khách quan, chân thực và không trau chuốt quá mức này giúp họ giành được lòng tin vững chắc từ du khách quốc tế khi lên kế hoạch trải nghiệm thực tế.
Khoai Lang Thang là nhà sáng tạo nội dung số nổi tiếng trong giới yêu thích "xê dịch". Anh được yêu thích nhờ các video về du lịch, ẩm thực và văn hóa cả trong nước và nước ngoài.
Rủi ro bóp méo văn hóa ẩm thực và giải pháp bảo tồn bản sắc bền vững
Mặc dù công nghệ mang lại sức mạnh lan tỏa khổng lồ, việc quá chú trọng tối ưu thuật toán truyền thông cũng đi kèm những rủi ro văn hóa nghiêm trọng. Tiến sĩ Phạm Hương Trang cảnh báo rủi ro lớn nhất là thuật toán luôn ưu tiên những nội dung dễ thu hút tương tác nhất (gây sốc, lạ mắt, kích thích thị giác) chứ không nhất thiết phản ánh chính xác chiều sâu văn hóa. Một món ăn truyền thống mang đậm giá trị di sản qua nhiều thế hệ có thể bị bóp méo, đơn giản hóa thành "món ăn kỳ lạ nhất Việt Nam" để câu view.
Bên cạnh đó, hình ảnh và âm thanh được tăng cường, phóng đại bằng AI có thể tạo ra những kỳ vọng ảo tưởng mà trải nghiệm thực tế tại địa phương không thể đáp ứng. Khi du khách nhận ra khoảng cách lớn giữa "hình ảnh số" lấp lánh và thực tế nghèo nàn, thương hiệu ẩm thực quốc gia sẽ đối mặt với sự suy giảm độ tin cậy nghiêm trọng.
Tiến sĩ Justin Matthew Pang cũng lưu ý, việc ứng dụng công nghệ và phân tích dữ liệu cần được giám sát chặt chẽ từ cơ quan chức năng để ngăn chặn các nội dung giả mạo, tiêu cực.
Video chia sẻ trải nghiệm ẩm thực tại Hum cùng với di sản kiến trúc Sài Gòn của Food blogger Giang Vũ.
Đã đến lúc Việt Nam cần chuyển dịch trọng tâm quảng bá, tập trung giới thiệu hạ tầng, nền tảng công nghệ số và câu chuyện bản sắc - tức phần “xèo xèo” (âm thanh của chảo nóng) - chứ không chỉ tập trung vào bản thân “miếng bò bít tết” (món ăn ngon có sẵn). Có như vậy, kinh tế ẩm thực số mới thực sự trở thành chiếc cầu nối vững chắc đưa tinh hoa văn hóa Việt vươn tầm thế giới.