Kinh tế

Việt Nam còn những lợi thế nào để giữ chân các 'đại bàng' sản xuất?

Thế Lâm 10/09/2026 22:06

Malaysia đã vượt Việt Nam trên bảng xếp hạng sản xuất AMI 2026 của Dezan Shira. Nhưng cuộc đua chưa kết thúc, Việt Nam vẫn có những thế mạnh thu hút và giữ chân các “đại bàng” sản xuất..

Những lợi thế Việt Nam đang nắm giữ

Tâm điểm so sánh giữa 2 nền kinh tế hiện nay là Maylaisia và Việt Nam sau khi Malaysia đã vượt Việt Nam trên bảng xếp hạng sản xuất AMI 2026 của Dezan Shira. Việt Nam đứng thứ 3 về Thương mại quốc tế trong khi Malaysia ở vị trí thứ 5. Ở tiêu chí Economy, Việt Nam đứng thứ nhất, trong khi Malaysia đứng thứ 6. Đây là những lợi thế quan trọng đối với các nhà sản xuất hướng tới xuất khẩu.

Vị trí gần Trung Quốc cũng khiến Việt Nam phù hợp với chiến lược “China + 1”. Theo đó, nhiều nhà sản xuất doanh nghiệp có thể duy trì một phần năng lực sản xuất tại Trung Quốc nhưng bổ sung công suất ở Việt Nam để đa dạng hóa chuỗi cung ứng và phục vụ các thị trường khác.

Dữ liệu FDI năm 2026 cho thấy lợi thế này vẫn đang được thị trường xác nhận. Sáu tháng đầu năm, Việt Nam thu hút hơn 34,6 tỉ USD vốn FDI đăng ký, tăng 61% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt trên 13,03 tỉ USD, tăng 11,2%. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút hơn 18,4 tỉ USD, chiếm 53,3% tổng vốn đăng ký. Đến hết tháng 8, tổng vốn FDI đăng ký đã lên 40,63 tỉ USD, tăng 55,4%, trong khi vốn thực hiện đạt 17,25 tỉ USD, tăng 12% và là mức cao nhất trong 5 năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực dẫn đầu.

Điều đáng chú ý hơn là dòng vốn không chỉ tăng về lượng. Trong 8 tháng, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,72 tỉ USD, tăng 96,8% dù số dự án chỉ tăng 9,4%. Điều này cho thấy quy mô cam kết bình quân đang lớn hơn. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy khả năng giữ chân và mở rộng các “đại bàng” sản xuất.

đồ gỗ nội thất gỗ và sản phẩm gỗ-1
Việt Nam vẫn có thế mạnh về sản xuất và chế biến. Ảnh: Nhà máy sản xuất, chế biến đồ gỗ. Nguồn: HAWA.

Sức hấp dẫn đó còn được củng cố bởi đà tăng của sản xuất trong nước. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng tăng 10,8% và 8 tháng tăng 11,9%; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng tăng 12,5%. Nói cách khác, Việt Nam không chỉ thu hút vốn để xây dựng thêm nhà máy, mà năng lực sản xuất thực tế cũng đang tăng tốc.

Những điểm nghẽn cần tháo gỡ: Điện, nước, hạ tầng tức thời

Tuy nhiên, chính tốc độ tăng trưởng này làm lộ rõ những điểm nghẽn đối với kỳ vọng tăng trưởng của giai đoạn tiếp theo. AMI 2026 xếp Việt Nam thứ 7 về Lực lượng lao động và thứ 8 về đổi mới sáng tạo trong số 11 quốc gia, nghĩa là nằm ở phần nửa dưới của bảng xếp hạng. Khoảng cách này cho thấy lợi thế về chi phí và quy mô lao động sẽ ngày càng khó đủ để quyết định một dự án công nghệ cao. Vì vậy, bài toán của Việt Nam không còn là tạo thêm việc làm mà là nâng nhanh chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật.

Điểm nghẽn thứ hai là điện và hạ tầng vận hành. AMI 2026 xếp Việt Nam thứ 3 về Hạ tầng, chỉ sau Malaysia ở vị trí thứ 2. Nhưng ở chỉ số Độ tin cậy của nguồn điện, Malaysia đạt 73 điểm, còn Việt Nam 46 điểm. Trong khi đó, Việt Nam lại có điểm Đầu tư hạ tầng cao hơn, 83 so với 50 của Malaysia. Điều này tạo ra một nghịch lý: Việt Nam đang đầu tư mạnh vào hạ tầng, nhưng doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao quan tâm trước hết tới khả năng vận hành ổn định của hạ tầng ngay tại thời điểm này. Với một nhà máy có dây chuyền tự động hóa cao, mất điện, thiếu nước, logistics không ổn định hay thời gian thông quan kéo dài đều có thể làm tăng chi phí lớn hơn nhiều so với phần tiết kiệm từ tiền lương.

Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Từ Trung Chấn. Ảnh: NVCC.
Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Từ Trung Chấn. Ảnh: NVCC.

Tại cuộc tọa đàm “Đón sóng đầu tư AI Data Center: Cơ hội bứt phá hay thách thức hạ tầng năng lượng?” ngày 17/7 tại TP.HCM do Một Thế Giới tổ chức, GS.TSKH Từ Trung Chấn – Phó chủ tịch Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Công nghệ cao ASEAN – cho biết, trong những cuộc tiếp xúc và tham quan, làm việc với đại diện các hãng Samsung và Intel, các nhà đầu tư đề bày tỏ sự băn khoăn về nguồn cung điện, nước chất lượng và ổn định tại Việt Nam, đặc biệt là đối với các dự án công nghệ cao, đơn cử như AI Data Center.

Chuyển sang giai đoạn sản xuất mới: Cuộc đua tiếp theo là bán dẫn, điện tử và sản xuất công nghệ cao

Số liệu FDI năm 2026 cho thấy Việt Nam đã có nền tảng đủ lớn để bước sang giai đoạn sản xuất mới. Trong 6 tháng, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 53,3% tổng vốn FDI đăng ký. Sang 8 tháng, vốn FDI cấp mới vào riêng ngành này đạt 12,15 tỉ USD, chiếm 55,9% vốn cấp mới; nếu tính cả vốn tăng thêm, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút khoảng 20,18 tỉ USD.

Cơ cấu xuất khẩu cũng cho thấy nền kinh tế đã chuyển khá sâu sang sản xuất công nghiệp. Sáu tháng đầu năm, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu, với máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; máy móc, thiết bị cùng nhiều nhóm hàng công nghiệp khác giữ vai trò chủ lực. Khu vực FDI chiếm khoảng 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Cuộc đua vì thế không phải “Việt Nam hay Malaysia”. Cuộc đua là quốc gia nào giành được phần FDI có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng đang tái cấu trúc mạnh trong khu vực. Chính vì thế, Việt Nam không cần trở thành “Malaysia thứ hai”, mà có thể trở thành một “cứ điểm sản xuất công nghệ cao” có vai trò riêng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhưng đây cũng chính là điểm Việt Nam phải thay đổi. Nếu phần lớn giá trị vẫn được tạo ra ở khâu lắp ráp và Việt Nam phụ thuộc nhiều vào linh kiện, nguyên vật liệu nhập khẩu, tăng FDI chưa đồng nghĩa với tăng tương ứng năng lực công nghệ nội địa. Cốt lõi của cuộc cạnh tranh tiếp theo vì thế, sẽ không phải là ai có nhiều nhà máy hơn, mà là ai thu hút được nhiều công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong mục tiêu chuyển từ “thu hút thêm FDI” sang “thu hút FDI tạo năng lực” được CHính phủ đề ra.

nhà máy chip ngành bán dẫn vi mạch của FPT tại Bắc Ninh-1
Nhà máy đóng góp chip của FPT tại Bắc Ninh. Nguồn: FPT.

Malaysia là sự cảnh báo tốt, Việt Nam có thể học gì?

Malaysia vượt Việt Nam trên AMI 2026 không nên được hiểu là nền sản xuất của Việt Nam đang bị suy yếu. Bởi, những số liệu thống kê 6 tháng và 8 tháng đầu năm chính là bằng chứng cho thấy vị thế sản xuất của Việt Nam vẫn đang tăng trưởng. Nhưng điều Việt Nam có thể học từ Malaysia, là kịp thời thích ứng và chuyển đổi trạng thái nhanh khi tiêu chuẩn cạnh tranh đã thay đổi. “China + 1” vẫn là lợi thế, nhưng không còn đủ lớn khi danh sách điểm đến mở rộng sang Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan… Khi đó, doanh nghiệp sẽ hỏi kỹ hơn, như sản xuất ở đâu hiệu quả nhất, ổn định nhất và tạo giá trị cao nhất?

Ngay cả những lợi thế của Malaysia thời điểm hiện tại, cũng không tự động trở thành lợi thế của 5-10 năm tới nếu không tiếp tục thích ứng, củng cố và tăng tốc. Từ đó, bài toán đặt ra cho Việt Nam cũng rất rõ ràng, là cần biến đầu tư hạ tầng thành độ tin cậy thể hiện ở ngành điện, nước và logistics; biến lực lượng lao động đông đúc thành đội ngũ kỹ thuật viên và kỹ sư tinh nhuệ; biến hệ sinh thái lắp ráp thành mạng lưới nhà cung cấp; và biến FDI thành năng lực R&D, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thế Lâm